(TIẾNG LÒNG HUỆ LỘC) -Nhận định về bài viết :” Tham Luận Về Đề Tài: Lạm Dụng Danh Xưng” của ông Lê Hữu Trung

Huy Hieu Hoa Sen         Gần đây có người dựa theo Giáo Chỉ số 10 rồi kết luận cho rằng Ngài Quảng Độ là “độc tài” để viết lên bài “Lạm Dụng Danh Xưng”.  Đó là một ý kiến không đúng vì kẻ đó không hiểu biết về sự sinh hoạt chính xác trong Tăng Đoàn cũng như Giới luật Phật gia.  Đây là nói về Giới nhà Phật.  Có hiểu về Giới mới biết lời nói kết luận Ngài Quảng Độ “độc tài” là sai lầm.  Thật ra ngôn từ “độc tài” không thể và không bao giờ xuất hiện trong ngôn ngữ Phật giáo bởi vì tất cả mọi Tăng lữ là những kẻ tự nguyện từ bỏ cuộc sống thế gian, tuân mình theo Giới luật, nghe lời thầy chỉ dẫn sự tu tập, lấy Giới luật làm phương thuốc ngăn ngừa và chữa lành mọi bịnh tật cũng như mọi tội lỗi trong tâm thức, từ đó làm cơ sở cho sự giác ngộ cũng như sự nghiệm chứng Thánh giải.  Y Giới trước độ mình sau độ người thì mới đúng là đường lối tu hành chơn chánh. 

Như trong kinh Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Tướng, Phật dạy: “Giới ta chế ra cốt vì Chơn Lý (Sự Giải Thoát) chớ không phải vì phước lợi thế gian.” Điều đó dẫn đến các Giới tại gia như Ngũ Giới cư sĩ, Bát Quan Trai Giới, Thâp Giới thiện sinh, Bốn Mươi Tám Giới Bồ Tát tại gia cho đến Tiểu Giới Sa Di, Đại Giới Tỳ kheo, Bốn mươi tám giới Bồ tát  xuất gia kể luôn cả ba ngàn oai nghi và tám muôn tế hạnh cũng đều hướng y theo đạo lý xuất thế mà có, chớ không theo luận lý hay phước lợi thế gian mà lập.  Nên Giới của Phật không thể đem so sánh với luân lý hay đạo đức xã hội được bởi vì thật tướng những loại đạo đức hay luân lý xã hội là những quy ước tập tục của từng địa phương, làng xã, tỉnh, nước nào đó và cũng trong khoảng thời gian nào đó nó được thiết lập ra cho phù hợp với đời sống dân sinh tại đó hoặc cho nhóm người cai trị tại đó.  Từ đó mới có ngôn từ “độc tài” hay “dân chủ”.  Vì thế có rất nhiều hệ thống luân lý đạo đức thế gian chỉ tạo một lớp sơn hào nhoáng để che đậy một cái gì thối nát, một cá nhân, một quyền lợi nào để rồi có chuyện nay khác, xưa khác, quyền lợi đa số hơn quyền lợi cá nhân… Giới luật của Phật lập ra căn cứ trên trí tuệ sáng suốt thấy xa cả ba đời cùng những vô biên hữu tình. Tánh giới là thường hằng, là đuốc sáng trong đêm dài vô minh, là ngọc báu mani làm thoả nguyện những mong ước thành tựu và trang nghiêm Phật độ của từng chúng sanh, cho nên đâu thể nào lấy luân lý hay đạo đức thường tình thế gian mà làm thước đo giới hạnh nguyện trong Phật Pháp.

            Phàm vạch định nội quy Giáo hội để lưu truyền Phật Pháp không phải là việc dễ dàng, chẳng phải một sớm một chiều mà hoàn hảo, ắt phải thâm mưu viễn lự tuỳ cơ đặt bài cách thức, những gì Phật chế định cố nhiên không thể không tuân, cũng không thế chấp Lý phế Sự.  Nếu chấp, vừa chấp thì cả Lý cùng Sự cùng mất.  Chỉ có dùng Sự để rõ Lý; dùng Lý để dung Sự mới hòng không lầm lỗi.  Nói đến Tam Tạng kinh điển, thì Luật Tạng là nòng cốt vì dung thông toàn Sự là Lý, toàn Lý là Sự.  Thế mới biết tất cả mọi nội dung của mọi Hiến Chương Phật Giáo không thể tách lìa khỏi Giới và cũng phải lấy Giới làm căn bản cho mọi quyết định.  Có đắc Giới mới đắc Pháp, mới có Tam Hiền Thập Thánh quả vị.  Tôi đây chưa bao giờ nghe có một Kinh nào nói: “Không đắc Giới mà có đắc Pháp”.  Nếu có Đắc Pháp mà chưa từng đắc Giới thì đó chỉ là đầu môi chót lưỡi, thoả mãn dục trần.   Vị tổ thứ hai mươi mốt ở Ấn Độ là tôn giả Bà Tu Bàn Đầu (Vasubanchu) tự nói trong kiếp xưa khi sắp chứng Nhị Quả, nhân vì lầm lỗi dựa mình vào hình Phật vẽ trên vách nên bị thoái thất hết sạch.  Cũng vì ý nầy mà Ngài Ấn Quang Đại Sư xác định về Ngài Vasubanchu: “Bậc Nhị Quả chỉ mất quả vị.  Nếu là phàm phu ắt vĩnh viễn mất thân người, thường ở trong ác đạo chẳng còn ngờ chi. Ví như kẻ cự phú phạm phải đại tội, dốc sạch của cải trong nhà để chuộc tội chết; còn kẻ nghèo ắt lập tức bị chém đầu.”  Chuyện nầy được chép nơi chương ghi về vị tổ thứ hai mươi là Xà Dạ Đa tôn giả trong sách Truyền Đăng Lục.   Bậc Thánh nhân phạm tội sơ ý còn mất hết quả tướng, còn hạng phàm phu sát đất  vướng lấy lỗi lầm, ý chí kiêu căng, lòng ngang ngạnh không chịu sám hối sửa sai thì phải rơi trong ba ác đạo không còn ngờ vực!  Vì thế, tội “khinh mạn” chẳng phải nhỏ.  Có người kể lại, sau khi Ngài Quảng Độ ban hành Giáo Chỉ Số Mười, and em ông Thích VL một mặt nói lui về tu dưỡng, nhưng lại cùng nhau nổi giận đùng đùng lập tức kêu gọi các thầy tu trong ngoài nước làm đơn rút tên ra khỏi GHPGVNTN,  trước để cô lập,  sau làm tan rã GHPGVNTN thì mới vừa lòng.  Thật là một việc làm cố ý “Phá Hoại Tăng Đoàn” mà mọi người trên thế giới nầy đều thấy biết.  Chẳng những như vậy, anh em họ Viên còn mang tất cả sách vở kinh kệ của Ngài Quảng Độ ra quăng bỏ vào thùng rác. Nếu thật có điều như vậy thì tội Khinh Mạn Phật Pháp sao tránh khỏi?   Đã thuộc vào tội Ngũ Nghịch thì không có cách chi trốn khỏi cái quả báo sâu nặng về sau.  Các vị lãnh tụ các chi phái Phật Giáo nếu không thừa dịp nầy dùng kiến thức nhạy bén mà thanh lọc lại hàng ngũ Tăng nhân hư đốn, tôi e sau nầy Phật Giáo Việt Nam không còn nghe đến tiếng tăm, dấu vết Phật pháp cũng không còn nữa.  Thật là nguy hiểm, chao ôi!

             Kinh sách có câu: “Tỳ ni là thọ mạng của chánh pháp.”  Vì vậy Giới không thể bị lầm với luân lý, đạo đức thế gian, như có kẻ phạm giới trong cùng Tăng đoàn thì bậc tôn trưởng trí tuệ vì bảo vệ Tỳ Ni Chánh Pháp mà thu giới  hay răn đe trừng trị  kẻ phạm giới là điều cần thiết;  vì nếu không làm vậy thì vị tôn thủ đó vi phạm luật Tăng Tàn  nghĩa là lỗi chứa chấp hay sanh hoạt chung.  Và nếu khi đã phạm luật Tăng Tàn nếu không sám hối đúng pháp, kết quả sẽ chịu cảnh địa ngục y như sư phạm giới.  Điều nầy mọi người tu cần cảnh giác, sự sơ ý có thể dẫn đến chổ trọng tội dễ dàng là như vậy.  Những Tăng sư phạm giới không sám hối thì mỗi ngày tội lỗi tăng thượng, mà lại tiếp tục mặc áo nhà sư thì lại thêm tội lừa dối Phật, Pháp, Tăng, và chúng sanh.  Vì chư Phật và chúng sanh nhiều vô lượng cho nên tội lừa dối nầy cũng tăng thượng vô lượng!  Vì vậy những tu sĩ vì những người tu phạm giới mà mang tội Tăng Tàn (Che Dấu) thì cũng mang tội vô lượng y như kẻ kia. Giới điều của Phật là thanh lọc hàng ngũ Tăng chúng vì Tăng chúng là đệ tử của Phật, y theo giới hạnh Phật mà tu hành cho đến thành Phật, cho nên những kẻ phàm phu sát đất, nghiệp chướng đầy dẫy, phạm các trọng giới cấm không thể lẩn trốn vào đây được.  Vì thế họ phải bị các thiện tri thức đứng đầu là bậc giới đức lãnh đạo Tăng đoàn tẫn xuất ra khỏi Giáo Hội là một việc làm đúng Pháp như trong kinh Đại Niết Bàn, Phẩm Trường Thọ, Đức Phật nói với Ngài Ca Diếp Bồ Tát rằng: “Nếu người (Tỳ kheo và Tỳ Kheo Ni) nào không tu học ba phẩm Pháp nầy (Giới, Định, Huệ) lười biếng phá giới, huỷ hoại Chánh Pháp, thời vua, quan, 4 bộ chúng phải nên nghiêm trị.

            -Nầy Ca Diếp! Như vậy các vua, quan, 4 bộ chúng có mắc tội chăng?

Ca Diếp Bồ Tát thưa rằng:

            – Bạch Thế Tôn, Không!

Phật nói:

            – Các vua, quan, và 4 bộ chúng ấy còn không có tội, huống là Như Lai.”

Đó là lời Phật thuyết, trừng trị Tăng phá giới, huỷ hoại Chánh Pháp là bổn phận của mọi người Phật tử.

            Nếu chiếu theo kinh Đại Niết Bàn, về mặt lý thì mọi bậc chân tu có oai đức đều có thể tẫn xuất Tăng phạm trọng giới kia ra khỏi Tăng đoàn, nhưng về mặt sự thì phải có bậc trưởng lão có chức vụ cao hơn, hoặc Đức Tăng Thống ra giáo chỉ.  Như vậy nếu Đức Tăng Thống có đủ chứng cớ phạm giới của vị chức sắc trong Viện Hoá Đạo thì Ngài vẫn có thể trực tiếp ban hành giáo chỉ đuổi khỏi Tăng Đoàn hay cất chức vị Tăng đó mà Ngài cũng không sai phạm với Hiến Chương, vì sao?

  1. Ngài làm đúng như kinh Phật thuyết: Y giáo phụng hành
  2. Viện Hoá Đạo, xét về cấp bậc thì cao hơn tất cả chúng Tăng chỉ thấp hơn Đức Tăng Thống, về mặt sự, một khi Viện Hoá Đạo trưởng phạm tội nặng nếu Đức Tăng Thống không ban giáo chỉ cất chức thì không ai có thể làm được. Cũng ví như trong một quốc gia, tể tướng phạm pháp thì chỉ có vua cất chức được mà thôi.

Như Giáo chỉ số 10/VTT/GC/TT nói : 

Trong thời gian gần đây, Hòa Thượng Thích Viên Định, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, đã tự ý cùng vài người thân tín quyết định những vấn đề quan trọng của Giáo Hội mà không thông qua Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo cũng như không thỉnh thị ý kiến của Tăng Thống ; 

– Hủy bỏ những phiên họp định kỳ, ra những Thông Bạch sai sự thật, vô hiệu hóa Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, là tiếng nói chính thức của Giáo Hội trong Pháp nạn hiện nay ;

– Đã khâm tuân việc tẫn xuất Hòa Thượng Chánh Lạc nhưng lại làm văn bản minh xác chức vụ Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo và Thành Viên Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương cho vị Tăng phạm trọng giới nầy. Đồng thời đề nghị Tăng Thống cùng ký vào văn bản, đó là việc xưa nay chưa từng có.

Những sự kiện nêu trên vừa vi phạm Hiến Chương và Truyền Thống của GHPGVNTN, sẽ đưa đến nạn độc tài, phe phái, để khuynh loát Giáo Hội trong hiện tại và tương lai.

Xét rằng tại Hải Ngoại : 

– Kể từ khi được bổ nhiệm Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, Hòa Thượng Thích Viên Lý đã đi ngược lại Đường Hướng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, mà cụ thể nhất là việc mời Tu Sĩ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam lên đài truyền hình IBC của Hòa thượng thuyết giảng, mời tham dự Đại Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và cố tình đề cử Tu Sĩ nầy vào hàng ngũ lãnh đạo của Giáo Hội, nhưng đã bị các thành viên của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo phản đối.

– Hành động trên đây của Hòa Thượng Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo là biểu hiện sự cấu kết với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong chiều hướng hòa hợp, hòa giải với chế độ Cộng Sản hiện nay….

            Theo như Giáo Chỉ số 10/VTT/GC/TT thì các trọng tội trên có chứng cớ rõ ràng.  Có ai trong các thầy đó lên tiếng để hỏi trưng bằng cớ ra chưa?  Điều đó chưa hề thấy bên bị tố đòi hỏi trưng chứng cớ ra mà chỉ thấy những lời kể ra công cán vu vơ và buộc tội “ngoại nhân” bâng quơ vô bằng chứng thật là ấu trỉ.  Nhưng dù có kể ra có nhiều công cán đi nữa, hoặc tìm được người để đổ được cái chổ tức giận của mình, thì cái lỗi mà mình đã gây tạo trước đó có vơi được gì không? Người có suy nghĩ há chẳng biết đó là trẻ con hay sao?  Người tu như vậy thì hằng ngày tâm niệm chuyện gì? Quán tưởng việc chi?

            Hơn nữa, theo truyền thống xuất gia tu học Phật Giáo dù là tu theo Tiểu Thừa,  Đại Thừa, hay Mật Thừa vấn đề phạm giới rất quan trọng hơn hết, hiến chương nội qui dù sao cũng là điều thứ, vì sao? Vì Phật dạy: “Người tu lấy Giới làm thầy và Giới luật còn thì Đạo Phật còn”.  Trong Di Giáo Tam Kinh, do Ngài Trí Húc Đại Sư thuật, phần Chánh Tông có viết: “Đức Phật mới bảo các Tỳ Kheo rằng:  Nầy các Tỳ Kheo, sau khi Ta diệt độ, nên tôn trọng kính quí Ba La Đề Mộc Xoa, như tối tăm gặp ánh sáng, kẻ nghèo được của báu.  Phải biết đó là bậc thầy của các vị, Ta có ở thế gian cũng không khác như vậy.” Ngài Trí Húc mới luận rằng: “…Khi Phật tại thế, thờ Phật làm thầy, Phật diệt độ rồi, lấy Giới làm thầy, nếu không trì giới nổi, ắt cùng nhà mà như cách vạn dậm, nếu khéo giữ giới, tất trăm kiếp khác gì cùng thời, lời thật đã do kim khẩu nói ra, lẽ nào còn bỏ đây cầu điều gì khác.”

            Nhìn đó mà biết chấn chỉnh kỷ cương nơi Thiền môn, răn đe kỷ luật Tăng phạm giới là điều ướt yếu nhất của Giáo Hội và Tăng Đoàn, không có gì hơn nó được.  Phật dù còn tại thế, Ngài cũng làm như vậy thôi.  Cho nên người tu hành khi phạm trọng giới thì đã mất hết phẩm hạnh người tu rồi.  Hơn nữa nếu đã là Tăng từng dạy giới và truyền giới cho người khác mà lại phạm giới thì còn phải gương mẫu nhận chịu sai lầm và chấp nhận sự trừng phạt nặng hơn, như thế mới đúng là bậc chơn Tăng, cớ sao chẳng những không thẹn thùng xấu hổ, lại còn cho người lên website dùng xảo ngôn ỷ ngữ bắt lỗi Đức Tăng Thống? Lại nữa, kẻ phạm giới thì không nghe nhắc tới, ép Hiến Chương theo ý mình mà chỉ trích người hành luật, thì đó là một hành động che dấu và thiên vị.  Hơn nữa, dù chấp hành theo quy tắc của Hiến Chương mà không kể đến Giới Phật dạy thì cũng là điều thiếu sót và sai lầm, vì như vậy thì có khác nào theo nhỏ bỏ lớn, theo cái phụ bỏ cái chánh, theo Tăng bỏ Phật thì ắt là kẻ quá si mê, người có trí ai lại không chê trách.  Như vậy cần phải lấy Luật giới làm căn bản giải quyết mọi vấn đề trong Tăng đoàn thì mới ổn thoả.

            Ngài Quảng Độ ra Giáo chỉ số 10, tẩn xuất ông Ch L, cách chức hai sư VĐ và VL là một việc làm phù hợp tâm nguyện của các cố Tăng Thống GHPGVNTN và làm sáng tỏ các Bản Hiến Chương Phật Giáo 1964 và 1972,  chứng tỏ được Lý và Sự dung thông, đồng thời cũng là nguyện vọng của đa số Phật Tử trong và ngoài nước. Đây là việc làm có tánh cách “Hộ Pháp” và bảo vệ Chánh Pháp như kinh Đại Niết Bàn thường đề cập.  Việc làm nầy không dính líu tới quyền lợi cá nhân trong lãnh vực tài sản hay quyền thế, mà lại thể hiện tinh thần giáo giới từ bi vì chúng sanh mà làm.     Nay có kẻ với mắt phàm phu thiếu kém trí tuệ hoặc vì bảo vệ quyền lợi riêng tư vội vã kết án Ngài Quảng Độ là “Độc Tài” thì thật là nông cạn, rõ thật người viết bài “Lạm Dụng Danh Xưng” không hiểu Luật Xuất Gia một phần nào cả, cũng là thái độ phỉnh dối Phật, Bồ Tát, và chúng sanh.  Những kẻ như thế dù là Cư Sĩ Tại Gia hay Tu Sĩ đều mang lấy lỗi lầm nghiêm trọng như sau:

  1.  Nếu ông là một Phật Tử như lời ông vừa bảo:  Với tư cách là một Phật tử có nghĩa là một Phật tử hay Ưu Bà Tắc hoặc Ưu Bà Di  có thọ Tam quy  và Ngũ Giới là căn bản và phải y theo Tam Quy Ngũ Giới mà tu tại gia thì không có quyền tham dự vào việc nội bộ tu hành thanh tịnh của chư Tăng.  Nếu thấy có việc chẳng hoà trong Tăng chúng thì cũng chỉ nên có những thỉnh nguyện liên lạc tìm hiểu bắt đầu từ cư sĩ đoàn là những cư sĩ huynh trưởng.  Không nên có những lá thư trên email hay internet  với lời nói tức giận, suồng sã chỉ trích hay  kết luận độc hướng bằng lời nói ngang ngược vô căn cứ của chính mình.  Đó là hành động tự phá Tam quy và Ngũ Giới của chính bản thân mình, và cũng là hành động phá hoại Tăng Đoàn.  Điều nầy có tính cách làm các Phật Tử mất lòng tin vào đức hạnh cũng như tinh thần thanh tịnh phổ độ chúng sanh của chư Tăng trong GHPGVNTN.  Đó là hành động của loại Nhất Siễn Đề như Đề Bà Đạt Đa đã từng mưu hại Phật và Tăng Đoàn trong thời vua A Xà Thế.   Một kết quả bi thảm cho Đề Bà Đạt Đa là bị rơi thẳng xuống Địa Ngục lúc còn đang sống.  
  1. Nếu ông là Tu Sĩ mà giả danh Phật Tử thì vướng tội Đại Vọng Ngữ.   Ông có thể nại cớ rằng : cớ sao có nhiều người lấy bút hiệu khác nhau, mà Tôi thì lại bị vướng tội Đại Vọng Ngữ?  Đúng vậy có nhiều tu sĩ mang bút hiệu khác nhau mà không vướng tội Đại Vọng Ngữ là vì họ không nói dối với mọi người rằng họ là Phật Tử có nghĩa là một cư sĩ thọ Tam Quy Ngũ Giới; còn ông là tu sĩ đã từng thọ đại giới mà nay nói dối với mọi người rằng ông là một Phật Tử.  Lời nói dối nầy không phải chỉ đến một người mà đến Đại Chúng bao gồm hết mọi Tăng, Ni, Thánh Hiền, Bồ Tát, Phật và chúng sanh mãi mãi trong ba đời. Cho nên tội vọng ngữ của ông trở thành Đại Vọng Ngữ.  Đó là một tội Ba La Di.      

        Nói rằng Ngài Quảng Độ vi phạm bản Hiến Chương điều Thứ Năm (5), là một sự sai lầm, hàm hồ, và vô căn cứ, vì ông đã ép Hiến Chương theo ý mình.  Ông có biết Điều Thứ Năm trong cả hai bản Hiến Chương ngày 04-01-1964 và Bản Tu Chính ngày 12-11-1973 nói gì không?  Điều Năm trong Bản Hiến Chương ngày 04-01-1964 nói: “Thành lập của GHPGVNTN gồm hết thảy Tăng sĩ và Cư sĩ, thuộc Bắc Tông và Nam Tông chấp thuận bản Hiến Chương nầy.”  Điều Năm trong Bản Tu Chính Hiến Chương ngày 12-11-1973 nói: “Thành phần của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất gồm Tăng sĩ và Cư sĩ thuộc Bắc Tông và Nam Tông chấp nhận Bản Hiến Chương nầy.”

            Những Điều Năm (5) trong hai Bản Hiến Chương vừa kể trên, không có điều nào liên hệ gì đến Giáo Chỉ số 10: việc Ngài Quảng Độ tẫn xuất một vị phạm giới Ba La Di  là ông CL và cách chức hai vị phạm giới Tăng Tàn  vì họ cấu kết với các sư quốc doanh và có ý đồ truất phế Đức Tăng Thống.  Đâu có việc Giáo Chỉ số 10 làm xung chạm hay ngược lại Điều Năm trong hai Bản Hiến Chương nầy.  Ông chiếu theo điều khoảng nào trong Hiến Chương mà lại nói Giáo Chỉ số 10 đi ngược lại Điều Năm (5)?  Lại nữa khi các ông CL, sư VL, sư VĐ và các sư đồng bọn rút bỏ tên ra khỏi GHPGVNTN rồi thì Điều Năm cũng vẫn là Điều Năm, có gì thay đổi?

            Hơn nữa, ông đã xác nhận rằng Ngài Quảng Độ có “tư cách tối cao”, như vậy lẽ dĩ nhiên Ngài có quyền đơn phương ban hành Giáo chỉ số 10 để cách chức các sư Tăng mang các tội lừa dối và vọng ngữ, mà trừ Ngài Quảng Độ ra thì không ai làm được.  Các sư VĐ, TH, và VL…là các phạm giới sư, phá hoại sự thanh tịnh Giới học của các tăng ni Phật Tử khi thỉnh nguyện Ngài Quảng Độ lưu giữ và dùng lại ông sư phạm tội Ba La Di CL trong Tăng Đoàn với chức vị Cố Vấn Văn Phòng II VHĐ Hải Ngoại.  Còn riêng ông VL thì mời các sư “quốc doanh” gia nhập vào thành viên VHĐ II làm lũng đoạn sinh hoạt của Giáo hội.  Những tội danh như trên, đã đầy đủ duyên tố làm cho Giáo chỉ số 10 ra đời là điều tất yếu.  Cũng như trong nước, khi gian quốc sư hay gian thừa tướng làm phản thì chỉ có một cách là quốc vương là người duy nhất có khả năng đơn phương ban hành chiếu chỉ truất phế các gian thần.

            Như trên đã nói, việc điều hành Giáo Hội trong Phật Giáo không giống như chuyện mưu lược chánh trị hay đấu tranh quyền thế trong xã hội thế gian.  Những người tu là những người tình nguyện bỏ hết mọi sự vui của ngũ dục, hiến thân cho Phật Pháp để cuối cùng thoát khổ và chứng Đạo Giải Thoát.  Cho nên Giới Luật nhà Phật là căn bản của mọi bước hành trình tu học, chớ không phải dựa vào bản Hiến Chương như ông đã lầm tưởng.  Kẻ tân học nương theo sự chỉ bảo của kẻ cựu học.  Trò nương vào thầy.  Các Tỳ Kheo chưa đắc Đạo hay dù có đắc Đạo cũng phải nương vào các bậc Tôn Túc Trưởng Lão.   Mỗi mỗi hành vi cử chỉ của mỗi tu sĩ trong Tăng Đoàn ngoài việc giữ gìn nghiêm thúc các giới luật trong đó gồm 250 giới cho Tăng và 350 giới cho Ni, lại còn phải tập tành 72 bài oai nghi thì mới biết quy củ của chốn tùng lâm; giữ đúng oai nghi Tăng thì du phương hành cước mới không bị trở ngại.  Nếu không, thế gian dù rộng lớn, nhưng thập phương tùng lâm không cách nào ở được.  Xin đơn cử một vài oai nghi đặc trưng như sau:

  1. Không đặng kêu tên và Pháp danh bực Đại Sa Môn
  2. Chẳng đặng nghe lén bực Đại Sa Môn nói Đại Giới
  3. Chẳng đặng đi chuyền nói lỗi bực Đại Sa Môn
  4. Chẳng đặng ngồi thấy bực Đại Sa Môn đi qua chẳng đứng dậy.  Trừ có năm điều không đứng dậy không lỗi như là: 1. Khi đọc Kinh  2. Khi bị bịnh.  3. Khi cạo tóc  4. Khi ăn cơm  5. Khi làm việc Chúng.
  5. Phải dậy sớm
  6. Muốn vào cửa, trước phải khẩy móng tay ba lần
  7. Bằng có lỗi, thầy Hoà Thượng, thầy A Xà Lê dạy răn đó, chẳng đặng nói trả lại.  Hai thầy răn dạy quở trách, phải cúi đầu vâng dạy.  Chẳng đặng trả lời Thầy.  Lui rồi, cần nên nhớ nghĩ, y lời Thầy dạy mà làm theo.
  8. Xem Thầy Hoà Thượng và Thầy A Xà Lê cũng như là Phật vậy
  9. Hoặc có khi thầy sai đổ đồ bất tịnh, chẳng đặng khạc nhổ, chẳng đặng giận hờn
  10. Hoặc lễ bái.  Thầy ngồi Thiền, chẳng nên làm lễ.  Thầy đi kinh hành , chẳng nên làm lễ . Thầy ăn cơm, Thầy nói kinh, Thầy xỉa răng, Thầy tắm rửa, và Thầy ngủ nghỉ vv…đều không nên làm lễ.  Thầy đóng cửa không nên làm lễ ngoài cửa. Muốn vào cửa làm lễ, phải khảy móng tay ba lần, Thầy chẳng đáp nên lui.
  11. Đem đồ ăn uống cho Thầy đều phải bưng hai tay.  Ăn xong, dọn đồ phải sẽ -sẽ.
  12. Hầu Thầy chẳng đặng đứng trước mặt, chẳng đặng đứng chổ cao, chẳng đặng đứng xa lắm để thầy nói nhỏ nghe đặng khỏi hao sức Thầy.
  13. Bằng thưa hỏi câu chuyện Phật Pháp, phải sửa y lễ bái, quỳ gối chấp tay.  Thầy có dạy, chăm lòng nghe kỹ, nghĩ nhớ in sâu vào óc.
  14. Bằng hỏi việc thường trong chùa, chẳng buộc lạy quỳ, chỉ đứng vững bên Thầy, cứ thật trình thưa.
  15. Bằng Thầy thân tâm mỏi mệt, dạy lui, phải lui chẳng nên tâm tình chẳng vui hiện bày sắc mặt.
  16. Phàm có phạm giới, các việc chẳng đặng che dấu, mau tới Thầy, cầu xin sám hối .  Thầy cho thì hết lòng tỏ bày.  Tín thành hối cải lại đặng thanh tịnh.
  17. Thầy nói chưa rồi, ta chẳng đặng nói.
  18. Chẳng đặng ngồi chơi chổ Thầy, cùng mặc áo mão của Thầy.
  19. Thầy dạy đem thơ tín chớ đặng riêng mình mở xem, cũng chẳng đặng cho người xem.  Đến kia có hỏi, đáng trả lời, thời cứ thật trình thưa.  Không đáng trả lời, thời khéo lui đi.  Người cầm không đặng ở lại, phải một lòng nhớ Thầy trông về.
  20. Phàm hầu Thầy, Thầy chẳng dạy ngồi, chẳng dám ngồi.  Thầy chẳng hỏi , chẳng dám thưa, trừ mình có việc cần muốn thưa mới hỏi.
  21. Phàm muốn hầu chẳng nương nơi vách, dựa ghế, phải vững mình bằng chân, đứng một bên.
  22. Thầy có sai khiến, phải kịp thời làm xong, chớ nên trái trễ
  23. Phàm ngủ nghỉ, chớ nên trước Thầy

                        Khi Theo Thầy ra khỏi am tự

  1. Chẳng đặng trải qua nhà người khác
  2. Chẳng đặng đứng bên đường cùng người nói chuyện
  3. Chẳng đặng liếc ngó hai bên, phải cúi đầu theo sau Thầy
  4. Đến nhà người Đàn Việt, phải đứng một bên Thầy.  Thầy dạy ngồi mới được ngồi…

            Những oai nghi như thế không phải chỉ là lý thuyết suông, mà rất nhiều tăng nhơn tuân thủ.  Xưa kia Ngài Trí Thường sau khi ngộ đạo rồi liền hầu hạ Ngài Huệ Năng như thế đến trọn đời.  Hoài Nhượng Thiền Sư khi suốt thông lẽ Đạo liền hầu hạ Lục Tổ suốt mười lăm năm, sau đạt được chổ huyền diệu qua núi Nam Nhạc mở rộng Thiền Tông, sau khi chết được sắc phong là Đại Huệ Thiền Sư… (xem Pháp Bửu Đàn Kinh)

            Đó là một số giới luật tượng trưng cho oai nghi và tế hạnh.  Mỗi mỗi đều được đặt ra nghiêm khắc đều nhằm mục đích loại trừ các tập khí thế gian đã bám víu lâu đời trong tâm thức mỗi hành giả,  tu sĩ.  Cho nên mới gọi là khác với luân lý và đạo đức thế gian.  Khi gặp như vậy, chẳng lẽ đối với mỗi giới, mỗi oai nghi, mỗi tế hạnh ông đều cho là “độc tài”  hoặc gọi là “không dân chủ” như tiếng nói thế gian?   Nói như ông thì Phật Giáo làm sao có người đắc giới?  Mà hễ không đắc giới thì làm sao tiến tới quá trình Chứng Đạo và Giải Thoát?   Đạo Phật mà như vậy thì coi như tiêu tùng rồi, có khác gì Ma Đạo; sư mà như vậy thì coi như là Ma sư, là đồ ăn hại thế gian rồi.  Vậy nếu ông chưa thấy điều nầy thì cần phải thấy.  Nếu bản thân ông chưa làm điều nầy thì cần phải làm.  Đó mới gọi là “Cứu mạng mạch của Phật Giáo”, chớ không phải là lời nói xuông như ông vừa nói kêu gọi mọi người gán tiếng “Độc Tài ” cho vị Tăng Thống, xong rồi có cớ để truất phế Ngài  thì đó là hành động của kẻ Nhất Xiển Đề trong Phật Giáo.   Sau đây xin mang ít vần thơ của ông Thanh Sĩ để cho ông chiêm nghiệm:

            …Nếu tu không được thì ra,

            Chớ mưu lấy đạo làm nhà buôn dân.        

            Tạo ngu dại hưởng phần ngu dại,

            Làm ác gian lãnh cái ác gian.

            Chạy trời sao khỏi nắng chang,

            Hại người mù tất phải mang kiếp mù.

            Thù người bị người thù khó tránh,

            Tổn hại người người tổn hại mình,

            Nhân nào quả nấy công minh,

            Người trong hạ giới chớ khinh lưới Trời…                         

            Trong Kinh Vị Tăng Hữu có kể một câu chuyện về bốn gã thái giám và bà hoàng hậu Đề Vi trong cung vua Ba Tư Nặc như sau:

            “Vua Ba Tư Nặc và bà Đại phu nhân hể lúc ra vào đi đến Tịnh xá cúng dường Phật và các chư vị Thánh nhân thường hay có bốn người khiêng kiệu sức lực rất mạnh vốn là bốn người thái giám danh gọi là Phiến Đề La. Một hôm khi kiệu dừng trước Tịnh Xá Kỳ Hoàn thì có viên quan coi kiệu (Huỳnh Môn) canh gát. Viên Huỳnh Môn nầy lại cũng giao kiệu cho bốn gã thái giám canh giữ, còn mình thì đi vào Tịnh xá nghe Pháp.  Bọn thái giám Phiên Đề La nầy đều nằm dưới kiệu ngủ mê không hay chi cả, lúc đó có kẻ hung nhân trộm lấy một viên ngọc ma ni châu trên kiệu báu của bà hoàng hậu.

            Khi ấy viên quan Huỳnh Môn tạm ra xem kiệu không thấy bảo châu lòng kinh hãi sợ hoàng hậu quở trách liền bảo bốn tên Thạch nữ (thái giám) rằng:” Ta sai các ngươi coi chừng kiệu cớ sao trộm lấy ngọc bảo châu”  Bốn người đồng thưa rằng: “Thật chúng tôi không thấy bảo châu.”   Viên Huỳnh Môn nổi giận lấy roi đánh vào các Thạch nữ đau nhức thấu xương, trong đó có một Thạch nữ biết mình không có trộm mà chịu oan bèn bỏ tuôn chạy vào trong Tịnh Xá la to kêu oan. Mọi người đều nghe nhưng không biết là việc chi.

            Phật bảo ông A-Nan: “Ngươi hãy đi đến viên quan Huỳnh Môn kia bảo đừng tiếp tục đánh người vô tội nữa. Vì sao thế?  Vì bốn Thạch nữ kia chính là Thầy đời trước của Hoàng Hậu.  Chúng đã là kẻ vô tội, vì sao lại đánh đập?  Đó là tự gây nhân duyên nghiệp ác cho đời sau.”

            Bấy giờ bà Hoàng Hậu nghe Phật nói lời ấy rồi, liền đứng dậy cung kính chấp tay bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Như lời Đức Thế Tôn nói té ra bốn người Thạch nữ khiêng kiệu cho con đây, lại chính là các vị Thầy đời trước của con.  Nhưng vì mê muội nên con không rõ, cúi xin Thế Tôn giải bày những nhân duyên ấy cho các người trong hội nầy được nghe biết. 

            Phật bảo: “Hoàng Hậu kêu các Thạch nữ đến trước mặt Thế Tôn, để Ta nghiệm xét chỗ hư thật”.  Hoàng hậu vâng mạng liền sai quan Huỳnh Môn dẫn hết đến.  Khi ấy bốn người Thạch nữ vừa trông thấy Phật, cúi đầu rơi lụy, quỳ gối chấp tay, bạch rằng: “Thật chúng con không trộm ngọc báu, nhưng không biết vì lẽ gì phải chịu đòn oan ức, đánh đập làm thân thể tan nát?” 

            Đức Phật đáp: “Tội nghiệp nhân duyên tự thân mình gây tạo, chớ không phải cha mẹ làm tội.”  Bấy giờ cả chúng Bồ Tát vô lượng ức người, ở trên hư không trong tâm đều vui mừng, rải các hoa hương tươi đẹp vô cùng để xông sạch các uế trược trần lao cho chúng sanh.  Thiên Vương ở cõi Trời Tự Tại cũng rất vui mừng.  Ở trên không và ngàn ức chúng đều hết lòng cung kính rải các diệu y.  Các Trời Phạm Thiên lặng lẽ, tâm các Ngài lấy làm quí lạ, đồng nhất tâm qui hướng về Đức Phật.  Các vị Tiên nữ tư dung tươi đẹp vô cùng, đánh các thứ kỵ nhạc.  Từ mỗi chân lông của Đức Phật đều phóng hào quang chiếu khắp vi trần thế giới, các hào quang ấy soi chiếu diệt hết mọi trần cấu của chúng sanh…

            Bấy giờ vua Ba Tư Nặc mới vòng tay cung kính bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Từ trước đến nay Ngài thuyết Pháp đều có nhân duyên.  Nay bốn người Thạch Nữ đây, bổn nghiệp đời trước có nhân duyên gì?  Xin Phật vì con và Đại Chúng giải đễ khai ngộ cho kẻ mờ ám được hiểu thêm nhiều lợi ích và mọi người được nhờ cậy.”

            Đức Phật nghĩ rằng: “Trong Chánh Pháp của Ta có các Thầy Tỳ Kheo lời nói, việc làm không giống nhau, ý nghĩ miệng nói trái nhau.  Song cũng xuất gia học đạo, hoặc vì lợi dưỡng, tiền tài, ẩm thực; hoặc vì tiếng khen và muốn đông nhiều bà con; hoặc có người nhàm chán pháp vua sai khiến mà đi xuất gia học đạo; chớ không có tâm cầu ba Pháp Môn Giải Thoát (Không, Vô Tướng, Vô tác) để khỏi cái khổ trong ba cõi; đem tâm bất tịnh thọ của cúng dường; không biết rằng đời sau nhiều kiếp chịu khổ đền bù nợ trước.  Vì những lẽ ấy nay Ta không nói sao được.”

            Phật mới bảo Vua rằng :” …. Trong vô số kiếp về trước có một nữ nhân tên là Đề Vi, giàu có chồng mất sớm, quy y tu pháp Thập Thiện cùng Thầy là ông Biện Tài Bồ Tát.  Bấy giờ trong nước gặp lúc mất mùa, thức ăn hiếm mắc, nhân dân đói khát.  Khi đó có năm vị Tỳ Kheo, lười biếng, giải đãi không ham học hỏi giáo lý kinh luật, lại không chuyên tu, trì giới, tinh tấn nên người đời khi dễ không cúng dường, bị nghèo cùng khốn khổ không có gì ăn để sống.  Năm người bàn với nhau rằng: “Vả luận người ta mưu sống, tuỳ thời thay hình đổi dạng, mạng người rất quý trọng, không lẽ chịu chết? ”  Mỗi người đều đi xin, sắm được toạ cụ, giường, giầy, tìm chỗ đồng trống dọn sạch sẽ, rải hoa treo tràng phan rực rỡ rồi theo thứ lớp mà ngồi.  Ngoài thân giả bộ như thiền tướng, nhưng trong tâm thì tà trược.  Người đời trông thấy thì tưởng là Thánh Nhân, mang đồ đến cúng dường trăm thứ đồ ăn uống tiêu dùng. Thế là năm người no đủ có dư.

            Khi ấy bà Đề Vi nghe việc nầy cho người dọ hỏi. Người đi dọ hỏi rồi về thưa rằng: “Có năm vị Thánh nhân riêng ngồi trong núi, người ta xúm lại hầu hạ như Thiên Thần”.  Bà Đề Vi nghe rồi, trong tâm rất hoan hỉ, đến đó làm lễ hỏi han thết đãi cúng dường.  Xong, bà ta mới cung thỉnh đám năm người thầy tu nầy về tư gia để cung cấp phụng sự hằng ngày. 

            Khi ấy năm Tỳ kheo nầy được chủ nhân cúng dường an ổn sung sướng mà tự nghĩ rằng: “Mọi người chung quanh phải dùng đủ mọi phương tiện, tìm kiếm tiền của để giúp cơn nghèo ngặt, tuy đặng như ý nhưng cũng không bằng bọn chúng ta, đã chẳng nhọc thân mà lại hưởng phước lộc, như thế không phải do sức trí huệ của mình hay sao?”  Năm thầy Tỳ Kheo kia xét thấy chủ nhân hết lòng trọng đãi, mới cùng nhau bàn rằng: “Tuy đặng chủ nhân cúng dường mỗi ngày giàu to nhưng tính đến lúc khó khăn mùa màng gia cảnh thì chủ nhân cũng không giúp được bọn ta mãi.  Vậy chúng ta nên suy nghĩ cách để tích trữ tiền của thật nhiều, sau nầy mới hưởng được dài lâu.”

            Bàn như thế xong rồi, liền cùng nhau thay đổi, thay phiên đi rao trong xóm làng như thế này: “Bốn thầy Tỳ Kheo kia, yên ở chổ vắng lặng, giữ gìn giới cấm dứt hẳn rượu thịt, không ăn hành tỏi, đáng bực phạm hạnh, tu thiền chỉ quán chứng nghiệp vô lậu, không bao lâu nữa sẽ thành quả A La Hán.”

            Những Phật tử nghe nói như thế liền đua nhau mang tiền tài ẩm thực đủ thứ đến cúng dường như thế nhiều năm.  Còn bà Đề Vi một lòng kính tin, cúng dường hoan hỉ không chán.  Mãn kiếp đó rồi, bà Đề Vi được sanh lên cõi Trời Hoá Lạc.

Còn năm vị Tỳ Kheo kia chuyên làm chuyện xảo nguỵ, vì tâm tà trược, nên khi phước hết mạng chung, sanh vào trong Địa Ngục trăm nghìn ức kiếp chịu cái quả báo rất khổ.  Tội Địa Ngục hết rồi phải chịu cái thân quỉ đói tám ngàn kiếp; tội ngạ quỉ hết rồi lại làm thân súc sanh cho người đánh đập, đày đoạ, và giết ăn để đền trả đồ cúng dường của bá tánh trước kia.  Do nhân duyên nghiệp báo, hoặc là lạc đà, lừa, trâu, ngựa, mèo, chó, gà, ngổng… tuỳ theo chủ nhân chổ thọ phước gì thì thường đem sức mạnh để trả cho chủ nhân, lần lựa như thế cũng đến tám ngàn đời.  Tội súc sanh hết rồi, tuy đặng làm người nhưng các căn ám độn, nam cũng không phải nam, nữ cũng không phải nữ, gọi đó là Thạch Nữ.  Từ đây sấp về sau, trải qua tám ngàn năm, thường đem sức mạnh đền trả chủ nhân, đến nay chưa hết.

            Phật bảo Vua rằng:”Bà Đề Vi khi đó là Hoàng Hậu đây vậy.  Còn năm người Tỳ kheo là bọn Thạch nữ theo hầu hạ khiêng kiệu cho bà Hoàng Hậu hôm nay.”

            Vua Ba Tư Nặc bạch Phật:” Theo như lời Đức Thế Tôn nói thì có năm Thạch nữ, mà nay đây thì chỉ thấy có bốn đứa khiêng kiệu, còn một người nữa ở đâu?”

            Phật bảo vua Ba Tư Nặc: “Còn một người nữa, người nầy thường ở trong cung, quét dọn cầu xí, tức là người đổ phẩn đó vậy.”… ( Kinh Vị Tằng Hữu)           

  1. Độc tài là kẻ tham quyền cố vị.  Ngài Quảng Độ khi bị các gian sư VĐ và TH áp lực buộc Ngài ký tên chấp nhận cho ông CL làm chức vụ cố vấn cho VHĐ II, thì Ngài khẳng khái từ chức, ẩn tu, và đồng thời giao GH lại lại cho các gian sư lo liệu.  Như vậy thì gọi là độc tài ở chổ nào? 

            Giáo chỉ số 10 là “ấn tín” thanh lọc hàng ngũ lãnh đạo tinh thần tôn giáo. Những sư bị thanh lọc là những sư phạm tội Ba La Di hay tội Tăng Tàn, đều có chứng cớ rõ ràng, sao gọi là độc tài.  Quốc có quốc pháp.  Thiền môn có thiền quy. Tăng phạm tội thì tự mình tự phạt sám hối xả giới lui ẩn, cách xa Phật Tử thì mới đúng phép của kẻ thực sự tu hành mong muốn giải thoát.  Còn như ngu muội không biết phép tắc luật giới thì bị thầy hay các vị tôn túc trưởng lão hay Tăng Thống cất chức hay đuổi ra khỏi Thiền môn thì đâu có gì gọi là sai trái với luật Phật, đâu có gì gọi các vị đó là “Độc Tài”? Hơn nữa việc tu hành là tự ý tự nguyện bước vào đường khó, xả thân bỏ mạng để đạt đến cứu cánh giải thoát viên mãn, nương vào Tăng đoàn tu học đấu tranh với bản ngã phá bỏ kiêu mạn, tinh tấn tu học vượt qua mọi thử thách cám dỗ của ngũ dục.  Chuyện nhỏ nhoi như dứt bỏ lòng oán hận sư trưởng còn không làm được thì làm sao tính tới chuyện rèn tâm giải thoát như trong Luận Bảo Vương Tam Muội đã nói 10 điều:

  1. Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bịnh khổ, vì không bịnh khổ thì dục vọng dễ sanh.
  2. Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì lòng kiêu căng nổi dậy.
  3. Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.
  4. Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.
  5. Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường kiêu ngạo.
  6. Giao tiếp đừng mong cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
  7. Với người thì đừng mong cầu tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì sinh lòng kiêu mạn.
  8. Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có mưu đồ.
  9. Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động
  10. Có oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân quả chưa xả.

Bởi vậy Đức Phật dạy:

            * Lấy bịnh khổ làm thuốc thần

            * Lấy hoạn nạn làm giải thoát

            * Lấy khúc mắc làm thú vị

            * Lấy Ma Quân làm bạn Đạo

            * Lấy khó khăn làm thích thú

            * Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ

            * Lấy người chống đối làm nơi giao du

            * Coi thi ân hay bố thí như đôi dép bỏ

            * Lấy việc xả lợi làm chổ thăng tiến

            * Lấy oan ức làm cửa ngõ Đạo Hạnh.

            Nhân quả đâu theo tiếng thị phi thiên hạ, đâu phải do nơi lời khen hay tiếng chê mà thành đặng quả báo, mà nó lại do thân, khẩu, ý của mình mà tự thành hình.  Từ xưa các bậc Hiền Thánh đã nói: “Báo thông ba đời chuyển biến do tâm” 

            “Báo thông ba đời” có nghĩa là đời nầy làm thiện, làm ác thì ngay đời nầy được phước mắc hoạ, đó gọi là Hiện Báo.  Đời nầy làm thiện, làm ác, ngay trong đời sau hưởng phước, mắc họa, đó gọi là Sanh Báo.  Đời nầy làm thiện, làm ác, đến đời thứ ba, hoặc đời thứ tư, hoặc mười, trăm, ngàn, vạn đời, hoặc đến vô lượng biên kiếp mới hưởng phước, mắc hoạ đó gọi là Hậu Báo.  Người đời trí cạn, chỉ nhìn Hiện Báo mà không thấy Sanh Báo và Hậu báo nên cho rằng không nhân không quả, rốt lại quả báo trở lại sau nầy chịu nhiều đau khổ! 

            “Chuyển biến do tâm” có nghĩa là ví như có người tạo ác nghiệp, đáng lẽ phải chịu cảnh Địa Ngục, chịu sự thống khổ không lường, nhưng biết sanh lòng sợ hãi liền tìm kiếm minh sư quyết lòng sám hối, tự tánh cải ác tùng thiện, tự nguyện phát Bồ Đề Tâm, tự lực tu hành tinh tấn liền sanh về cảnh Tây Phương xa điều khổ hãi, sau rốt thành Phật cứu lại chúng sanh.  Tuy vậy nhưng cũng phải trải qua quá trình gian khổ trong hiện đời như bị người khác khinh rẻ, hoặc bị bịnh khổ hoặc bị bần cùng , hoặc gặp mọi chuyện đều không như ý, nhưng vì quyết chí cải thiện  nên cái nghiệp  vĩnh viễn đoạ Địa Ngục muôn kiếp chịu khổ dài lâu đã trót tạo trước kia nay liền tiêu diệt, lại còn có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh.  Kinh Kim Cang, Phật có nói điều đó với ông Tu Bồ Đề: “Nếu có người thọ trì kinh nầy, bị người khác khinh rẻ là do tội nghiệp đời trước của người ấy đáng lẽ phải rơi vào ác đạo, vì đời nầy bị người khinh rẻ nên tội trước liền tiêu diệt, sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”  Đó là ý nghĩa “chuyển biến do tâm” vậy.   Người đời vừa gặp chút tai ương, nếu không oán trời cũng trách người, mà không bao giờ có ý tưởng trả nợ hay sanh lòng hối tội.  Phải biết: “trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”.  Trồng cỏ dại lại muốn lúa ngon thì không bao giờ được.  Kẻ khôn ngoan sống trong thế gian, nên có tri kiến sáng suốt, chớ nên để vật ngoài thân làm phiền luỵ huỷ hoại thân mình.  Ví như có vàng ngọc đầy nhà, cường đạo đến cướp chỉ nên bỏ chạy trốn lẹ, há nên giữ của đợi chết? Bởi lẽ vàng bạc tuy quý, nhưng thân mạng lại quý hơn.  Đã chẳng giữ được cả hai thì phải nên bỏ đi vàng ngọc mà thân được bảo toàn.  Tài vật bảy loại của ông do việc làm bất nghĩa nay cũng đã tự lần lựa tiêu tán, buồn xuông giận mắng lại Ngài Quảng Độ cũng là vô ích lại còn mang tội nặng đến nhiều kiếp về sau, có ích gì?  Chỉ nên tuỳ duyên sống qua ngày, dốc hết sức Niệm Phật, cầu sanh Tây Phương thì trong đời vị lai vĩnh viễn lìa khỏi các khổ.  Như thế do nạn lửa nầy bèn thành Đạo Vô Thượng, có phải là bổ ích hơn những bài viết mắng nhiếc Đức Tăng Thống và Giáo Hội?

            Ngài Ấn Quang Đại Sư cũng có nói: “Tội phước do tâm phân định.  Quả báo do tâm mà khác.  Vì thế Kinh Hoa Nghiêm nói:

            “Ngưu ẩm thuỷ thành nhũ,

            Xà ẩm thuỷ thành độc.

            Trí học chứng Niết Bàn,

            Ngu học tăng sanh tử.”

tạm dịch:

            “Bò uống nước thành sửa,

            Rắn uống nước thành nọc.

            Người có trí tuệ học Đạo chứng Niết Bàn

            Kẻ ngu si học Đạo tăng thêm sanh tử””

            Cũng cùng một bản Hiến Chương, mà khi Ngài Quảng Độ dùng thì thành Pháp độ tha; còn đến lúc ông dùng thì lại thành lỗi Siễn Đề.  Điều đó cũng không có gì lạ, bởi vì ông không đứng trong vị trí Ngài Quảng Độ, mà ở trong vị trí đối nghịch.  Nay thôi đừng mang tâm nghịch thù ra đối đãi nữa.  Trước Không nay cũng Không thì mới thật là Không.  Dừng chân thì bóng chẳng theo; càng đi đi mãi càng đeo nghiệp sầu.  Đời sống đâu ai luôn thuận cảnh, tính hết đời cũng chẳng rảnh trong lòng, thế mà chẳng việc nào xong, chết rồi mà vẫn còn lòng nối theo!  Tâm sanh tử là vậy! 

            Bài nhận định về bài viết “Lạm Dụng Danh Xưng ” đến đây là hết. Xin hãy đem lời tôi mà suy xét tận tường cặn kẽ, ắt sẽ được thoát khỏi các quả báo nặng sau nầy.  Nếu cứ chấp mê không ngộ, một khi phước đức hết rồi ắt sẽ phát điên cuồng, bổn tâm bị mất, tà ma dựa thân, dẫu ngàn Phật ra đời cũng không cách nào cứu ông được.  

Huệ Lộc

Tôn Thắng Đạo Tràng

Ngày 9/29/2014

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s