(Huệ Lộc) – Nhận Định Bài Viết : Lạm Dụng Danh Xưng của ông Lê Hữu Trung lần hai

 Huy Hieu Hoa SenVề vấn đề Hiến Chương, trước kia tôi có viết vài bài, trong đó có một bài xây dựng năm cột trụ gọi là : Yêu Cầu Vượt Qua Năm Sự Thật Trước Khi Đánh Phá Ngài Quảng Độ.  Có lẽ ông chưa đọc qua bài viết ấy của tôi cho nên mới đưa ra những điều 5, 11, và 28 để hy vọng qua mặt những người chưa từng đọc Hiến Chương 1964  và Giáo Chỉ số 10 Thật ra những điều 5, 11, và 28 chỉ là những sinh hoạt bình thường của Giáo Hội, cũng không có sự liên hệ gì đến Giáo Chỉ số 10.  Hơn nữa trong trọn hết toàn thể Hiến Chương bao gồm luôn cả ba điều 5, 11, và 28 không có một câu văn nào xác nhận rằng : Tăng Thống không được quyền đơn phương ngưng chức Viện Trưởng VHĐ  hay  Phó Viện Trưởng VHĐ nếu một hay cả hai người nầy có hành động đi ngược lại cương lĩnh  hay đường lối lãnh đạo của Giáo Hội.   Bây giờ thử nghiên cứu về  Giáo Chỉ Số 10 trước  rồi sau nghiên cứu thêm hai điều 11 và 28 sau.  Tuy vậy ông cần nên nhớ một điều là tôi chỉ bàn chơi cho vui với ông thôi, bởi Phật Tử không có tư cách gì nói về việc nầy.  Nếu muốn nói thì nội bộ Chư Tăng trong Tăng Đoàn giáo hệ họp lại bàn bạc với nhau mà thôi. Dĩ nhiên với trí huệ vô lậu của các người tu, các vị ấy tự biết gì là đúng, gì là sai; việc gì chưa làm xong; việc gì đã làm xong, và họ cũng không cần sự dạy đời một cách thô tục  của ông đâu.  Ông nên bỏ qua ý định dùng lý luận ô nhiễm mà áp dụng vào đời sống sinh hoạt trong Tăng Đoàn vì đó  là chuyện trái ngược hoàn toàn lời dạy của Phật dạy.

Phần 1Nghiên cứu về Giáo Chỉ số 10

                                    “GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

                                                          VIỆN TĂNG THỐNG

90 Trần Huy Liệu,

Phường 15, Quận Phú Nhuận,

TP Saigon

 Phật lịch 2557

Số : 10/VTT/GC/TT

                                     GIÁO CHỈ————————ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG                                                                                GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

– Căn cứ Điều Thứ 11, Chương Thứ Tư của Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, ban hành ngày 4 tháng 1 năm 1964, được tu chỉnh lần sau cùng ngày 12 tháng 11 năm 2011 ;

– Căn cứ Điều 5, Chương II của Qui Chế Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương đã được ban hành năm Quý Sửu, Phật Lịch 2517, dương lịch 1973 ;

– Căn cứ vào tiến trình dân chủ hóa Đất Nước và những diễn biến của Thế Giới cũng như trong Khu Vực, Giáo Hội cần có những đáp ứng kịp thời để đồng hành cùng Dân Tộc ; 

– Căn cứ vào hiện tình của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Xét rằng tại Quốc Nội : 

– Trong thời gian gần đây, Hòa Thượng Thích Viên Định, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, đã tự ý cùng vài người thân tín quyết định những vấn đề quan trọng của Giáo Hội mà không thông qua Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo cũng như không thỉnh thị ý kiến của Tăng Thống ;

– Hủy bỏ những phiên họp định kỳ, ra những Thông Bạch sai sự thật, vô hiệu hóa Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, là tiếng nói chính thức của Giáo Hội trong Pháp nạn hiện nay ;

– Đã khâm tuân việc tẫn xuất Hòa Thượng Chánh Lạc nhưng lại làm văn bản minh xác chức vụ Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo và Thành Viên Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương cho vị Tăng phạm trọng giới nầy. Đồng thời đề nghị Tăng Thống cùng ký vào văn bản, đó là việc xưa nay chưa từng có.

Những sự kiện nêu trên vừa vi phạm Hiến Chương và Truyền Thống của GHPGVNTN, sẽ đưa đến nạn độc tài, phe phái, để khuynh loát Giáo Hội trong hiện tại và tương lai.

 Xét rằng tại Hải Ngoại : 

 – Kể từ khi được bổ nhiệm Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, Hòa Thượng Thích Viên Lý đã đi ngược lại Đường Hướng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, mà cụ thể nhất là việc mời Tu Sĩ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam lên đài truyền hình IBC của Hòa thượng thuyết giảng, mời tham dự Đại Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và cố tình đề cử Tu Sĩ nầy vào hàng ngũ lãnh đạo của Giáo Hội, nhưng đã bị các thành viên của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo phản đối.

– Hành động trên đây của Hòa Thượng Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo là biểu hiện sự cấu kết với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong chiều hướng hòa hợp, hòa giải với chế độ Cộng Sản hiện nay.

NAY BAN HÀNH GIÁO CHỈ :

ĐIỀU I :

– Kể từ hôm nay, chấm dứt chức vụ Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, của Hòa Thượng Thích Viên Định ;

– Thỉnh cử Hòa Thượng Thích Như Đạt, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo vào ngôi vị Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.

ĐIỀU II :

Hòa Thượng Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Thích Như Đạt có nhiệm vụ kiện toàn thành phần nhân sự Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo trong thời gian sớm nhất đệ trình Viện Tăng Thống tấn phong.

ĐIỀU III :

– Kể từ hôm nay, chấm dứt chức vụ Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, và Chủ Tịch Văn phòng II Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, của Hòa Thượng Thích Viên Lý ; 

– Hòa Thượng Thích Trí Lãng, Phó Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, được thỉnh cử vào ngôi vị Quyền Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN.

ĐIỀU IV :

Hòa Thượng Quyền Chủ Tịch Văn phòng II Viện Hóa Đạo Thích Trí Lãng có nhiệm vụ kiện toàn thành phần nhân sự Văn Phòng II Viện Hóa Đạo trong thời gian sớm nhất đệ trình Viện Hóa Đạo, để Viện Hóa Đạo trình lên Viện Tăng Thống duyệt y.

ĐIỀU V :

Giáo Chỉ nầy có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Mọi Quyết Định trái với Giáo Chỉ nầy đều hủy bỏ.

ĐIỀU VI :

Chư Tôn Giáo Phẩm thuộc Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN và các Đương Sự có tên trong Giáo Chỉ nầy chiếu nhiệm vụ thi hành.

ĐIỀU VII : Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế có nhiệm vụ phổ biến Giáo Chỉ nầy.

Phật Lịch 2557,Thanh Minh Thiền Viện ngày 9 tháng 12 năm 2013Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất(ấn ký)Sa Môn THÍCH QUẢNG ĐỘ

Ghi chú của Viện Tăng Thống :

Dù được lệnh Đức Tăng Thống, nhưng Văn phòng Viện Hóa Đạo không chịu giao nộp khuôn dấu nên phải dùng ấn tín riêng của Đức Tăng Thống cho Giáo chỉ này.”

                                                **********

Trong Giáo Chỉ số 10 có hai điều quan trọng.  1. Chấm dứt chức vụ Viện Trưởng VHĐ của Hoà Thượng Viên Định   2. Chấm dứt chức vụ phó Viện Trưởng VHĐ GHPGVNTN, và Chủ Tịch Văn Phòng Hai VHĐ  GHPGVNTH của HT Thích Viên Lý  với lý do là hai vị nầy vi phạm những điều khoản nghiêm trọng có hại cho  Giáo Hội. 

Bây giờ ông cần phải chỉ ra rõ ràng:

  1. Hoà thượng Viên Định có phạm vào ba điều sau đây hay không?:

– Trong thời gian gần đây, Hòa Thượng Thích Viên Định, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, đã tự ý cùng vài người thân tín quyết định những vấn đề quan trọng của Giáo Hội mà không thông qua Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo cũng như không thỉnh thị ý kiến của Tăng Thống.

– Hủy bỏ những phiên họp định kỳ, ra những Thông Bạch sai sự thật, vô hiệu hóa Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, là tiếng nói chính thức của Giáo Hội trong Pháp nạn hiện nay.

– Đã khâm tuân việc tẫn xuất Hòa Thượng Chánh Lạc nhưng lại làm văn bản minh xác chức vụ Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo và Thành Viên Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương cho vị Tăng phạm trọng giới nầy. Đồng thời đề nghị Tăng Thống cùng ký vào văn bản, đó là việc xưa nay chưa từng có.

Những sự kiện nêu trên vừa vi phạm Hiến Chương và Truyền Thống của GHPGVNTN, sẽ đưa đến nạn độc tài, phe phái, để khuynh loát Giáo Hội trong hiện tại và tương lai.

  1. Hoà Thượng Viên Lý có vi phạm vào hai điều sau đây hay không?:

 – Kể từ khi được bổ nhiệm Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, Hòa Thượng Thích Viên Lý đã đi ngược lại Đường Hướng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, mà cụ thể nhất là việc mời Tu Sĩ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam lên đài truyền hình IBC của Hòa thượng thuyết giảng, mời tham dự Đại Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và cố tình đề cử Tu Sĩ nầy vào hàng ngũ lãnh đạo của Giáo Hội, nhưng đã bị các thành viên của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo phản đối.

– Hành động trên đây của Hòa Thượng Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo là biểu hiện sự cấu kết với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong chiều hướng hòa hợp, hòa giải với chế độ Cộng Sản hiện nay.

Vậy đối với ông thì việc cho chấm dứt nhiệm vụ của hai Hoà Thượng nầy là đúng hay là không đúng theo Giới Luật Phật Giáo và tôn chỉ của GHPHVNTN?  

Trong Kinh Đại Niết Bàn, Phẩm Trường Thọ, Đức Phật có dạy Ngài Ca Diếp Bồ Tát rằng:  ” Sau khi Như Lai nhập Niết Bàn nơi nào có Tỳ Kheo trì giới đầy đủ oai nghi hộ trì chánh pháp, thấy người hoại pháp bèn có thể khu khiển quở trách, trừng trị.  Phải biết Tỳ Kheo ấy đặng phước vô lượng không thể tính kể… Cũng vậy, Tỳ kheo giữ pháp thấy có người phá giới huỷ hoại, bèn nên khu khiển quở trách cử tội.  Tỳ kheo nầy là đệ tử của Như Lai, là chơn thật Thanh Văn.  Nếu thấy mà bỏ qua thời nên biết Tỳ Kheo đây là người hại Phật Pháp.”

  1. Nếu ông cho việc làm Ngài Quảng Độ trong Giáo Chỉ Số 10 là sai thì ông không hiểu về luật Phật vì sư VĐ và sư VL phạm lỗi Vọng Ngữ, Tăng Tàn, và không tuân thủ đường hướng hoạt động của GHPGVNTN bởi vì đối với Phật Giáo, luật Phật là chánh còn bản Hiến Chương là phụ; giống như nói luật Phật là Vua còn Bản Hiền Chương chỉ là quan  hay dân mà thôi; hoặc nói Luật Phật là Chủ còn Bản Hiến Chương là Khách.  Cho nên đệ tử Phật không theo phụ bỏ chánh; không theo quan dân mà mà bỏ Vua; không theo khách mà bỏ chủ; không theo Tăng  bỏ Phật.   Điều đó có nghĩa ông (nếu là tu sĩ của GHPGVNTH) không thể làm việc chung với GHPGVNTN được nữa.  Do đó mà ông (nếu là tu sĩ) bị loại ra khỏi Giáo Hội là chuyện tự nhiên. Không còn đặt thành vấn đề đúng hay là sai đối với Bản Hiến Chương nữa.
  2. Còn nếu ông công nhận hành động Ngài Quảng Độ là đúng thì không còn gì phải nói thêm về Giáo Chỉ số 10 nữa, mà chỉ có việc thi hành.
  3. Chiếu theo Kinh Đại Niết Bàn: Những Tăng sĩ mà ông nói rằng có một số  chư Tăng đã bất mãn Giáo Chỉ số 10, cùng nhau bỏ ra khỏi Giáo Hội trong đó có cả HT VĐ và HT VL để thành lập  một Tăng Đoàn mới và  chuẩn bị chọn một Tăng Thống mới, như vậy thì  tất cả các Tăng nhơn nầy làm ngược với lời Phật dạy, vì bảo vệ cho kẻ phạm giới và cũng không Y Pháp Phụng Hành.  Điều đó nói lên Ngài Quảng Độ đã thành công lớn trong việc thanh lọc hàng ngũ lãnh đạo chư Tăng, không cần lao tốn công sức mà các mối u nhọt của Giáo Hội do đám người quốc doanh len lỏi vào, tự nhiên bỏ đi và tan biến.  Đây là hiện tượng Sư tử trùng chạy ra khỏi Sư tử nhục.
  4. Ngài Quảng Độ khi ban hành Giáo Chỉ số 10 là Y Pháp Phụng Hành vì bảo vệ mạng mạch của Giáo Hội, nên cho ngưng chức  hai  vị Viện Trưởng và phó Viện Trưởng, là  việc làm đúng theo Chánh Pháp, như Phẩm Trường Thọ , Kinh Đại Niết Bàn.   Vì Y Pháp Phụng Hành cho nên chiếm phần sức mạnh ưu tiên trên tất cả mọi quyết định trong Giáo Hội Giáo Chỉ.  Cũng như Vua khi ban lịnh thì mọi quan lớn nhỏ đều phải tuân theo.  Luật Phật khi đã được thi hành thì tất cả mọi người tu đều phải tuân thủ không được làm trái lại vì là lời Phật Thuyết. 
  5. Kinh Đại Niết Bàn, Phẩm Trường Thọ, Đức Phật còn dạy thêm: ” Nay Như Lai đem Chánh Pháp Vô Thượng phó chúc các vua, đại thần, tể tướng, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu  Bà Tắc, Ưu Bà Di các vua quan và bốn bộ chúng phải khuyên răn khích lệ các học chúng, khiến tăng thượng giới, định, trí tuệ.  Nếu người nào không tu học ba phẩm pháp nầy lười biếng phá giới, huỷ hoại chánh pháp, thời vua quan và bốn bộ chúng phải nên nghiêm trị.

            Nầy Ca Diếp! Như vậy các vua quan và bốn bộ chúng có mắc tội không?  (Vậy ông nghĩ xem, Ngài Quảng Độ mắc phải tội gì?)

            Ca Diếp Bồ Tát thưa:” Bạch Thế Tôn không! ( Đó, ông có thấy rằng ông hoàn toàn vô lý để mà luận tội vị Tăng Thống rồi!)

            Phật nói: ” Các vua quan và bốn bộ chúng ấy còn không mắc tội, huống là Như Lai. (Vậy nếu ông luận tội Ngài Quảng Độ về việc Giáo Chỉ số 10 , thì ông kẽ Nhất Xiển Đề quá rồi, cả lời Phật dạy mà cũng không đếm xỉa đến, thế còn xưng là Phật Tử nghĩa là sao?)

Việc nhận định về Giáo Chỉ số 10 đến đây là hết.  Việc hiến chương Nội Qui chỉ là việc phụ.  Nay để làm vừa lòng ông tôi xin bàn thêm về đề tài mà ông cứ khăng khăng một mực bất chấp lý lẽ thiền quy, mà bảo rằng Ngài Quảng Độ vị phạm hai điều khoảng 11 và 28 trong Bản Hiến Chương.  Trong suốt toàn thể Bản Hiến Chương, ông có thấy câu văn nào không cho phép Vị Tăng Thống dùng quyền lãnh đạo tối cao để ngưng chức Viện Trưởng VHĐ hay Chủ Tịch Văn Phòng Hai VHĐ khi hai người nầy làm những việc bất lợi , ngược lại tôn chỉ hướng đi của Giáo Hội?   Nếu có thì ông cứ trích nguyên văn ra cho mọi người đồng thấy mà không cần thêm lời giải thích?

Bây giờ trích dẫn:

Nhiệm Vụ Ðức Tăng Thống

Ðiều thứ 11 :

“1.- Ban hành Hiến Chương GHPGVNTN 

2.- Chỉ định thành phần Văn phòng Viện Tăng Thống với sự hiệp ý của Hội Ðồng Giáo Phẩm Trung Ương.

3.- Ban Giáo Chỉ tấn phong Ban Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðạo sau khi Ðại Hội GHPGVNTN bầu cử.

4.- Triệu tập và Chủ tọa Ðại Hội GHPGVNTN bất thường trong trường hợp đặc biệt, liên quan đến sự tồn vong của Ðạo Pháp.

5.- Cấp Chứng Ðiệp cho hàng Giáo Phẩm Cao cấp từ Thượng Tọa trở lên. Ký Giáo Ðiệp vào dịp lễ Phật Ðản hàng năm.

6.- Chuẩn y khai Ðại Giới Ðàn.”

                                                            *********

Vậy bây giờ ông hãy chỉ ra câu nào không cho phép vị Tăng Thống đơn độc cho ngưng chức Tăng phạm luật đi ngược lại chủ trương tôn chỉ hay đường lối lãnh đạo của giáo hội?  Điều thứ 11 nầy chỉ nói đến việc Ban Hành Hiến Chương, chỉ định, tấn phong, triệu tập, cấp chứng điệp, ký giáo điệp.. mà thôi

Ðiều thứ 28 : Một trong các Chức vị thuộc Viện Hóa Ðạo có thể bị giải nhiệm :

“- Nếu là Chức Vị trong Ban Chỉ Ðạo (từ chức Tổng Vụ Trưởng trở lên ) thì do Ban Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðạo trình Hội Ðồng Giám Luật xét và trình Hội Ðồng Giáo Phẩm Trung Ương biểu quyết. Ðức Tăng Thống Duyệt y.– Nếu là Chức Vị từ cấp Miền trở lên do Ban Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðạo đề nghị và do Ðức Tăng Thống Chuẩn y.– Nếu là các Chức Vị khác từ cấp Tỉnh thì do Ban Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðạo Quyết định.– Nếu là Chức Vị từ cấp Quận trở xuống thì do Ban Ðại Diện Tỉnh Quyết định.”

                                                   *************

Vậy hỏi ông:  Đây là tất cả những trường hợp áp dụng giải nhiệm những chức vị dưới ban Chỉ Đạo Viện Hoá Đạo.  Còn nếu là Viện Trưởng VHĐ  hay Viện Phó VHĐ phạm lỗi, cần phải bị giải nhiệm thì ông tính như thế nào đây?   Trong  Điều  28 nầy có ghi các vị đó cần tự phải giải nhiệm không? Dĩ nhiên Điều 28 nầy  không có ghi điều đó.  Vậy nếu không ai có khả năng giải nhiệm được các vị nầy, căn cứ theo điều 28, thì ai sẽ là người có quyền lực tối cao giải nhiệm được những Viện Trưởng và Viện Phó nầy nếu không phải là vị Tăng Thống?  

  1. Vậy ông hãy chỉ ra câu nào trong Điều 28 nói rằng Vị Tăng Thống không có quyền đơn phương ngưng chức Viện Trưởng VHĐ Thích VĐ và ông Phó Viện Trưởng VHĐ Thích VL đã phạm giới những giới như vọng ngữ, tăng tàn, đi ngược đường lối lãnh đạo của Giáo Hội. Theo Giáo Chỉ số 10 và Lá Thư Từ Chức của Ngài Quảng Độ thì chứng cớ phạm tội rành rành.
  2.   a. Phẩm Di Giáo, Kinh Đại Niết Bàn, Đức Phật có dặn tứ chúng bốn điều trong đó có một điều quan trọng như trong giai đoạn hôm nay:

            “Nầy A Nan ! Ông hỏi sau khi Phật diệt độ lấy gì làm Thầy ?  Nên biết Giới Ba La Đề Mộc Xoa là Đại Sư của các ông.  Nương đó tu hành thời có thể được giới, định, huệ.

            b.Trong Sa Di Luật Giải, Chương Thượng Thiên Giới Luật Môn có viết:

“Coi Thầy Hoà Thượng và Thầy A Xà Lê như Phật vậy:  Coi nghĩa là xem ngó.  Bởi hai Thầy nói trên là người làm khuôn mẫu dạy chúng sanh trong ba cõi, thay thế Phật diễn nói Chánh Pháp, nuôi huệ mạng cho ta, nên ta phải kính trọng coi cũng như Phật.  ” 

             Như vậy trong Giáo Hội, vị Tăng Thống chính là đại diện cho Phật.  Không tôn trọng lời nói, quyết định của Ngài tức làm trái với lời Phật dạy.   Nói xấu hay mắng chưởi vị Tăng Thống chính là mắng chưởi Phật.  Huống  chi Ngài Quảng Độ một đời hy sinh cho đạo Pháp, dám mang thân mạng mình chịu đựng khổ đau để bảo vệ tự do tôn giáo, nay ông mang lời lẽ nhơ bẩn bôi trét lên thanh danh của Ngài thì thật là một thái độ quá ư Khinh Sư Diệt Tổ.   Tại sao?  Trong Kinh Báo Ân, Đức Phật mới kêu ông A Nan lại nói: ” Chứng Nhập Nhơn Tội, phát tuyên nhơn đoản” có nghĩa là ” Có những kẻ không luận người kia có tội hay không có tội, cứ đem tâm ác của mình mà ép cho người ta có tội, thế là mình mắc tội”

Phật nói với ông A Nan:

            – Nhơn sanh thế gian, hoạ tùng khẩu xuất

            Đương hộ y khẩu, thậm ư mãnh hoả

            Mãnh hoã xí nhiên, thiêu thế gian tài

            Ác khẫu xí nhiên, thiêu Thất Thánh Tài

dịch là

            Người sanh trong đời, hoạ từ miệng mà ra

            Phải gìn nơi miệng, miệng lắm hơn lửa dữ

            Vì lửa dữ bừng  cháy, đốt của thế gian

            Miệng lửa bừng cháy, đốt hết Thất Thánh Tài 

Cũng như ông thêu dệt miệng lưỡi chê mắng Ngài Quảng Độ hôm nay vậy, bảy loại huệ tánh của ông cũng tan mất, đồng thời bản chất ác tánh của ông lập tức hiện tiền.  Tại sao vậy?  vì Đức Khổng Tử có nói:

            – Nặc nhơn chi thiện, sở vị tế Hiền,

            Dương nhơn chi ác tư vi tiểu nhơn

dịch là :

            Giấu  sự tốt của người, gọi rằng che người Hiền

            Bày cái xấu của người ra ấy là đứa tiểu nhơn

 Ngài Quảng Độ có công lớn với Giáo Hội và hơn 80 triệu người dân Việt Nam thì bị ông che dấu, rồi ông bôi bác những danh từ nhơ bẩn như Độc Tài , vi phạm Hiến Chương … vào Ngài.  Như vậy chiếu theo Nhân Đạo do Đức Khổng Phu Tử chủ xướng thì ông là kẻ ra sao?

 Ông Thái Công còn nói :

            – Dục lượng tha nhân, tiên tu tự lượng

            Thượng nhơn chi ngữ, hườn thị tự thương

            Hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu

dịch:

            Muốn phê bình người ta trước phải phê bình mình

            Lời nói hại người, trở lại hại mình

            Ngậm máu phu người miệng mình dơ trước.

Bài viết bôi nhọ Ngài Quảng Độ, tức là ngậm máu phun người.  Tiếc thay không ai thấy Ngài Quảng Độ có gì sai trái, nhưng chính bản thân ông vì tánh ác và nóng giận mà mất hết bản tâm.

Trong Đại Luật nói:  “Xưa ông Điều Đạt mắng Ngài Xá Lợi Phất là Tỳ Kheo ác dục, vừa mắng thì huyết nóng trong mũi liền chảy ra, thân đương sống liền đoạ trong Địa Ngục lớn.”  Hôm nay ông cũng theo cũng một con đường xưa đó, mắng Ngài Quảng Độ là  Độc Tài  và không tôn trọng bản Hiến Chương… Ông không nghĩ gì về hậu quả của lời nói  của ông sao?                        

  1. Hơn nữa Kinh Luật là do Phật thuyết, còn Nội Qui hay Hiến Chương bất quá chỉ do Tăng lập dĩ nhiên còn nhiều khuyết phạm, đâu thể căn cứ vào Nội qui hiến chương từng chử từng câu mà gọi là hành Đạo.   Lời Phật thuyết ai lại dám cưởng lại? Theo Hiến Chương mà bỏ đi lời Phật, Tổ  dạy thì đã là một hành động sai lầm rồi, vì theo nhỏ bỏ lớn, theo cái phụ mà bỏ cái chánh, huống chi  ông nay lại vo tròn, bóp méo,  ép Hiến Chương theo ý mình thì ông đã tự làm mất hết ý nghĩa của Hiến Chương rồi thì làm sao có ai tin cậy gì về ông được nữa, thì có khác nào ban ngày có kẽ cuồng si mang đèn ra ngoài đường, lại bảo với mọi người là trời tối.   Lời Phật, Tổ dạy xem Tăng Thống như Phật vậy vì Ngài là Hoà Thượng, là A Xà Lê, đại diện cho Giáo Hội , mà ông không làm theo, lại còn dùng xảo ngôn thêu dệt để kết án người tu vô tội, thì thật là tội lỗi vô cùng.   Kinh xưa có nói:      

            Dục đắc bất chiêu vô gián ngục,

            Mạc báng Như Lai Chánh Pháp Luân

                                    dịch

            Muốn chẳng chiêu vô gián địa ngục,

            Đừng chê chánh Pháp của Như Lai

  1. Lại nữa, hãy xem sau ngày 9 tháng 12, 2013, chỉ một ngày sau khi Giáo Chỉ số 10 vừa ban hành thì có một đám sư Tăng cùng phe sư V Đ,  sư V L,  ông C L xúm nhau tuyên bố từ chức,  rồi từ bỏ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, ra ngoài lập ra tổ chức mới gọi là Tăng Đoàn Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại.  Nhóm mới nầy là một tổ chức độc lập, hoàn toàn không còn dính líu và tuỳ thuộc vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. 

 Lại nữa, sau khi làm đơn xin ra khỏi Giáo Hội thì các vị nầy không mang tất cả các động sản và bất động sản do Đàn Na Tín Chủ đã hiến cúng, cũng như tiền cứu trợ khắp mọi nơi gởi về, trước ngày 9 tháng 12, năm 2013  như Chùa Điều Ngự và những cơ sở khác mà hoàn trả lại cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do Ngài Quảng Độ làm Tăng Thống.   Như vậy là các vị đó đã vi phạm Điều thứ 30, Chương Thứ 9 Tài Sản, của bản Hiến Chương ngày 04-01-64, các nhà sư đó cũng vi phạm  luôn cả Điều thứ 37, Chương thứ 10 Tài Sản, trong Hiến Chương Ngày 12-12-1973.  Theo Luật nhà Phật, việc làm của các vị sư nầy đã vi phạm nghiêm trọng giới luật “Trộm Đạo” của Thường Trụ Tam Bảo và của Chúng Tăng trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.  

Kinh, Luật nhà Phật đã nói rỏ ràng về giới Trộm Đạo của Thường Trụ Tam Bảo và của Chúng Tăng nầy, xin trích lại một đôi phần trong Sa Di Luật Giải làm căn cứ cho bài viết hôm nay:

  1. Kinh Tam Muội: 

“Tội người trộm lấy vật của chúng Tăng, nặng hơn tội người giết tám vạn bốn ngàn cha mẹ”  (Sa Di Luật Giải, trang 55)

  1. Kinh Đại Luật:

“Bằng trộm những vật trong Tháp Phật và vật cúng trong chùa, đều mắc tội nặng, còn trộm quyển kinh người khác, tính giá tiền giấy mực mà phạm tội nặng và nhẹ như luật đã nói.” (Sa Di Luật Giải, trang 55)

  1. Kinh Lương Hoàng:

Thà ăn thịt mình, quyết không lạm dụng Tam Bảo chuốc lấy khổ to, chịu tội một đời hoặc nhiều đời, bởi vì lạm dụng của Tam Bảo vậy.   Lại nữa, của Phật của Pháp, của Tăng phần nào đều thuộc về phần ấy, không được lấy dùng lộn xộn.  Nếu dùng trái phép sẽ tính giá, phạt tội; còn vật của chúng Tăng  hoặc  của Thường Trụ  cũng thế, cũng có phần sở thuộc, không được phép dùng lộn xộn.  Các điều như vậy trong Đại Luật có nói rỏ, văn nhiều đây chẳng chép. 

Đời Đường, đất Phân Châu, ông chủ chùa Khải Phước, tên là Huệ Trừng nhiểm bịnh, cất tiếng như trâu rống mà chết, chôn cất xong, ông tăng trong chùa đó là  Ngài Trường Ninh ban đêm thấy ông Huệ Trừng về hình sắc ốm gầy.  Trừng nói : ” Tôi vì lạm dụng của Tam Bảo, chịu khổ khó nói, các tội còn nhẹ , duy có tội lạm dụng của Thường Trụ Tam Bảo rất nặng, xin Ngài làm ơn cứu giúp.   Ngài Trường Ninh bấy giờ vì ông Huệ Trừng tụng kinh sám tội hơn một tháng Trừng trở về nói:  ” Nhờ lợi ích sám hối tụng Kinh, nay Tôi riêng ở một chổ và đã đặng bớt khổ, song chưa biết ngày nào mới hẳn là ngày hết tội.”  (Sa Di Luật Giải, trang 55).

  1. Kinh Thập Giới:

“Có phạm giới đây (trộm đạo), chẳng phải là thầy Sa di vậy”

Kinh chép một thầy Sa di trộm của Thường Trụ 7 trái cây; một thầy Sa di thứ hai trộm của chúng Tăng vài cái bánh, thầy Sa di thứ ba trộm chút đường phèn của chúng Tăng, cả ba chết rồi đoạ Địa Ngục.  (Sa Di Luật Giải, trang 59)           

  1. Cổ Kinh vân:

Ninh tựu đoạn thủ, bất thủ phi tài

                        dịch

Thà chịu chặt tay, chớ lấy của phi tài (Sa Di Luật Giải, trang 63)

  1. Bậc Cổ Đức:

Nhơn phi thiện bất giao, vật phi nghĩa bất thủ

                                      dịch

Người không tốt không là bạn, của phi nghĩa không lấy

            (Sa Di Luật Giải, trang 63) 

  1. Kinh Lục Độ Tập:

Đức Phật nói trong một kiếp làm người nghèo:

“Ta thà giữ đạo nghèo hèn mà chết, chớ chẳng làm người vô đạo, giàu sang mà sống” ( Sa Di Luật Giải, trang 63)

  1. Kinh Tăng Nhứt A Hàm:

 Phật dạy các Tỳ Kheo:

” Nếu ai trộm cắp vật của người ta, bị người chủ bắt được, giao cho Quan trị tội, cầm giam trong lao ngục, hoặc chặt tay chơn, lắt tai, mũi nhẫn đến chặt đầu, tên bắn, đũ cách hành hạ rồi chết, sau khi mạng chung, sanh trong Địa Ngục lữa dữ thiêu thân , nước đồng sôi rót vào miệng , hoặc trong chảo dầu , quăng vào lò lữa, gươm đao đâm lụi, hấp nóng, bỏ chổ dơ, cối xay nghiền nát, cối giã đâm nhừ, chua chát nhức đau đủ cách, nào hay kễ xiết, cả trăm ngàn năm không ngày nào ra khỏi. 

Tội Địa Ngục vừa mãn, kế sanh trong loại súc sanh làm voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, lừa, chó… , trải trăm ngàn năm, ra sức đền bù nợ người.  Tội Súc Sinh vừa mãn lại sanh trong loài ngạ quỉ đói khát khỗ ngặt không thể nói đũ, trải trăm ngàn năm chịu khổ như thế.  Hết đời Ngạ Quỉ mới được làm người lại, lại mắc hai món quả báo:

  1. Nghèo cùng, áo chẳng kín thân, cơm không no miệng
  2. Thường bị nạn nước trôi lữa cháy, hoặc bị vua bắt,                                                quan đòi, giặc dữ cướp đoạt …   (Sa Di Luật Giải, trang 64) 
  3. Kinh Chánh Pháp Niệm:

            Thà ăn trùng rắn độc và  uống nước đồng sôi chớ không phá giới cấm mà ăn đồ ăn của chúng Tăng. (Sa Di Luật Giải, trang 73) 

            10.Luận Đại Trí Độ:

            Những người phá giới, bằng mặc đồ pháp phục tức là tấm sắt đồng buộc vấn nơi thân; bằng bưng bình bát tức là bưng chén nước đồng sôi.  Bằng có uống ăn tức là nuốt hoàn sắt nóng, uống nước đồng sôi.  Bằng thọ dụng người ta cúng dường tức là quỉ ngục tốt, quỉ ngưu đầu trong địa ngục.  Bằng vào nhà Tịnh Xá, tức là vào địa ngục lớn, bằng ngồi giường chúng Tăng  tức là ngồi trên giường sắt nóng.  Như trong các Kinh, Luận, Phật đã nói:”Khá chẳng răn sợ sao ? !”( Sa Di Luật Giải, trang 73) 

  1. Trong Kinh Phương Đẳng:

            Ngài Hoa Tụ Bồ Tát nói:

“Tội Ngũ Nghịch và tội tứ trọng ta có thể cứu đặng; còn tội trộm lấy vật của chúng Tăng, thì ta không thể cứu đặng.” (Sa Di Luật Giải, trang 55)

            Tưởng cũng nên khuyên ông rằng những danh sách Đại Lão Hoà Thượng, Hoà Thượng, Thượng Toạ, hay Đại Đức … mà ông hay thường forward, CC hay BCC đều không có ai dám tán thành ý kiến của ông đâu.  Vì sao thế? Vì ông phạm lỗi Nhất Xiển Đề chuyên môn đánh phá Giáo Hội Tăng Đoàn, mấy vị hoà thượng  hay thượng toạ kia nếu tán thành với ông thì tức cùng phạm giới như ông vậy.  Thôi ông đừng kéo thêm nhiều người nữa để cho quả báo ít được phần nào thì đở khỗ phần đó vậy.   

            Qua những bài viết của ông, tôi biết ông không phải là một Phật Tử thuần tuý, hoặc trước kia có thể là một Phật tử nay vì quyền lợi cá nhân mang hết tư thù đổ vào GIáo Hội với hy vọng có ngày trở lại khôi phục lợi quyền, cho nên mang tư tưởng xa lìa Phật Pháp.  Mưu sư tại nhân, thành sự tại thiên.  Mạng người theo phước đức mà thay đổi vắn, dài.  Như trong Kinh Lương Hoàng Sám, Hoàng Hậu vợ vua Lương Võ Đế, quyết tâm muốn hại ngài Chí Công nên phạm tội sát sanh làm bánh bao nhân thịt chó cúng dường cho người tu.  Vì quả báo nghiêm trọng, chỉ trong ba ngày phước đức và mạng số đồng tiêu hết.  Bà ta chết và đoạ làm thân đại Mãng Xà, trong mỗi vảy có một kim trùng uống máu , đau nhứt thấu xương.   Kinh Hoa Nghiêm nói nhân quả theo ta như hình theo bóng, hình cong thì bóng cũng cong theo.  Các Tổ cũng truyền nhau: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu.”  Vua A Xà Thế sau khi giết vua cha xong tức thời cả mình nổi mụn độc, tưởng như chịu cảnh địa ngục ngàn đời , may gặp đức Phật mà tương lai thay đổi.   Ông hôm nay lời lẽ nặng nề kết tội Vị Tăng Thống.  Hành động của ông vượt ngoài bổn phận và trách nhiệm của người Phật Tử, thì là việc phá hoại Phật Pháp, tạo tác ác nghiệp nặng nề. Tôi khuyên ông hãy dừng lại trước khi quả báo chín muồi. 

Thế nhân trả báo thì chầy,

Người tu trả báo một giây nhãn tiền.  

Nhìn gương ông Điều Đạt thì sẽ tự hiểu.

(Trong cuộc phỏng vấn của chị Ỷ Lan với Hòa Thượng Thích Quảng Độ, có chỗ Ngài nói “…ai lập ra Giáo Hội VNTN cho nó làm Viện Trưởng…”.   Ông muốn biết có câu trả lời thì tìm đọc bài viết  Huệ Lộc Nhận Định  bài viết- 7 Vấn Nạn Đơn Giản  Mà Không Có Người Trả Lời thì tự nhiên hiểu)

Bài Nhận Định vế Bài Lạm Dụng Danh Xưng Lần Hai đến đây là hết.   Mong ông hồi tâm. 

Huệ Lộc

Tôn Thắng Đạo Tràng

10/21/2014

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s