(Huệ Lộc) – Trả lời ông Lê Hữu Trung Quyết Định Số 17 và Số 18 Lần Hai

Huy Hieu Hoa SenÔng Lê Hữu Trung,

         Tôi có viết bài hồi đáp cho ông lâu rồi.  Vì thấy ông quá mê mờ không hiểu được những điều tôi đã nói mà ông đã hỏi  trong những lá thư trước, nên tôi không đưa ra.  Hôm nay ông lại hỏi Ngài Quảng Độ cùng những câu hỏi cũ kỹ xa xưa mà chúng đã có những câu trả lời rồi, tôi không nghĩ rằng Chư Tăng trả lời ông đâu.  Lẽ dĩ nhiên nếu ông thân hành đến Thanh Minh Thiền Viện thì lại là chuyện khác.

          Về phần tôi, trước đây ông hỏi ý kiến của tôi về 2 Quyết Định 17 và 18 của Ngài Quảng Độ, tôi đã giúp ông để soi sáng vấn đề trên bằng cách chỉ ra nguyên nhân tạo ra nghi vấn cho ông là sự sơ sót về lỗi đánh máy và đồng thời cung cấp cho ông ba điều sáng tỏ: 1. Về nhân sự  2. Về hoàn cảnh  3.  Về pháp lý như sau:

         Trích bài :  Huệ Lộc- Trả lời ông Lê Hữu Trung về Quyết Định Số 17 và số 18:

         ” Tôi không phải là cố vấn cho ông như HT Chánh Lạc đâu.  Nếu ông muốn tìm hiểu câu trả lời thì ông tự tìm đọc lại các Quyết Định trên và bản Hiến Chương.  Tuy nhiên trong khi quán niệm,  thấy ông có những lời lẽ lể độ đáng khen, nhưng tâm ông lại quá mịt mờ.  Trên thuyền Từ lòng không nở bỏ, tôi cũng thương tình mà đọc lại các  Quyết Định Số 17/VTT/QĐ/TT và Quyết Định Số 18/VTT/QĐ/TT và thấy đó chỉ là hai lổi đánh máy (typo) của người Thư Ký, thay vì là Chương 9 nhưng đánh lộn là Chương 8 trong mỗi Quyết Định.   Không phải riêng mình tôi mà ai nhìn qua cũng biết là lổi đánh máy (typo) bởi vì tiếp theo đó:

         1.  Điều 36 trong Quyết Định số 17 được xác định là Quy Định Nhiệm Vụ Và Pháp Lý Của Văn Phòng II Viện Hoá Đạo (trong nước)

         2.  Điều 36 trong Quyết Định số 18 được xác định là Quy Định Nhiệm Vụ và Pháp Lý của  Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Các Quốc Gia, Châu Lục.

         Điều  36  trong Quyết Định 17 và 18 đều được giải thích nhiệm vụ tự nó rõ ràng:  Điều 36 trong Quyết Định 17 xác định nhiệm vụ Tấn Phong Các Nhân Sự Văn Phòng II VHĐ Trong Nước.  Điều 36 trong Quyết Định 18 xác định nhiệm vụ Phê Chuẩn Thành Phần Nhân Sự Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ.

         Vì có sự giải thích nhiệm vụ điều 36 theo liền trong văn bản nên người đọc không thể nào lầm lẫn với điều 35 (xác định ai là Tín Giáo Đồ) như ông nêu ra.   Đó là lý do tại sao có sự nghi vấn của ông về hai Quyết Định số 17 và số 18.  Dĩ nhiên là lý do nầy không đáng kể.

Nay ông hỏi thêm:

1.  Câu hỏi thứ nhất: Hai Quyết Định số 17 và  số 18 trên có giá trị không ?

         Thì đây không phải là câu hỏi mà ông có thể nêu ra được.  Người có thể nêu ra câu hỏi nầy là Tân Ban Điều Hành Viện Hoá Đạo GHPGVNTN trong và ngoài nước nếu các vị nầy cảm nhận có sự ảnh hưởng về việc tấn phong.   Hơn nữa về hình thức hỏi thì cũng chỉ là việc nội bộ đạo đạt của chư Tăng và Ban Điều Hành lên Ngài Quảng Độ để làm một phiên bản (next version) nếu thấy cần thiết.  Nhưng nếu ông muốn câu trả lời từ tôi thì câu trả lời của tôi là : Hai Quyết Định số 17 và 18 vẫn có giá trị vì hai Quyết Định nầy không vì lổi đánh máy mà có sự thay đổi nội dung, nghĩa là hai Quyết Định nầy vẫn đạt được yêu cầu của việc tấn phong các Nhân Sự Văn Phòng II VHĐ trong và ngoài nước. 

2.  Câu hỏi thứ hai:  Ngài Quảng Độ đã phạm lổi gì trong hai bản Quyết Định  Số 17 và 18? 

Câu hỏi nầy không đúng!  Vì sao?  

1. Về nhân sự:  Sự sai sót về typing (typo) thuộc về người thư ký. Không thể đổ lổi cho Ngài Quảng Độ được

2. Về hoàn cảnh: Trong lúc vội vàng hay khẩn trương hoặc hoàn cảnh khó khăn như bị theo dõi bị khủng bố thì những sai sót nhỏ có thể bỏ qua.

3. Về tánh chất pháp lý:  Việc làm trên không thuộc về phạm trù “lổi (tội)” mà thuộc về phạm trù “nghiệp” !   Nói “lổi” là nói về luật hạnh.  Việc sơ sót trên đâu thuộc vào luật hạnh.  Cho nên câu hỏi của ông không thể đặt ra ở đây được vì không đúng thời cũng như không đúng chổ.   Câu trả lời là Ngài Quảng Độ không phạm lổi gì cả.  Do đó ở đây chỉ luận về nghiệp thì đúng hơn.  Cũng như một đứa trẻ con tay bưng chung trà đầy nước đến cho cha mẹ, nhưng trên đường đi không khéo, nên nước trà có đổ ra khỏi chung chút ít.  Điều đó không thể nói đứa trẻ có lổi được là vì đứa trẻ nầy không cố ý.   Hoặc có người đang tả Kinh sách, đang lúc vội vàng đánh máy có sai trật, điều nầy chỉ là sự sơ ý, không kết luận là lổi (tội) được vì không cố ý.  Những chuyện như vậy tuy không phải là tội nhưng trở thành nghiệp vô ý thức.  Nghiệp vô ý thức nầy không thuộc vào hắc nghiệp cũng không thuộc vào bạch nghiệp, khi có nhân duyên đầy đủ thì nó trở lại.  Khi nó trở lại, thì thường đi chung với những nghiệp khác  làm ra tính chất tăng thượng duyên nghĩa là hợp với các nghiệp khác cho nặng thêm. Những nghiệp vô ý thức như vậy chỉ có những ai có thiên nhãn mới nhìn ra được nó từ đâu tới.  Tuy nhiên muốn hoá giải những nghiệp nầy cũng không phải là không có cách.  Nghiệp vô ý thức nầy cũng là một phần của Bất Động Nghiệp. Trong phạm vi bài trả lời, xin giới hạn lại.”   (HÊT TRÍCH)

         Nhưng nay ông lại chỉ bàn điều Một, còn điều Hai và điều Ba thì ông bỏ đi, coi như không biết gì hết.   Như vậy nói chuyện với ông giống như nói chuyện với “Năm Người Mù Sờ Voi” mặc kệ con voi là con gì, hể ai sờ trúng lổ tai  voi thì nói con voi giống như cái quạt; còn ai sờ trúng cái chân voi thì nói voi giống như cây cột… mà rốt cuộc không biết con voi là thế nào.   Vả lại ông cũng biết đó chỉ là lỗi đánh máy, thì có gì đâu mà ông “cay đắng” hậm hực chê bai người ta đến thế.   Ông chỉ biết nói phần ông thôi, bất chấp những lẽ phải mà mọi người nhìn vào.  Thái độ ngang ngược như vậy thì cũng khó mà nói chuyện cùng ông được, như câu tục ngữ thường nói: “Nói ngang ba làng nói không lại”.  Vậy kể từ nay ông đừng có làm lạ tại sao không ai muốn trả lời email của ông cả, là bởi vì ông không hiểu điều người ta nói, mà cũng không phân biệt được sự đúng hay sai. 

         Còn ông là ai, tôi cũng chẳng muốn biết làm gì.  Nếu ông muốn bằng chứng, chứng tỏ ông là ai, thì điều “ông không dám ra công khai đối chất trước mọi người như thư mời của Lực Lượng Cư Sĩ Chấn Hưng Phật Giáo và Ông Trần Đình Minh”, đó là bằng chứng. Tốt hơn, thay vì hỏi dong dài, ông nên ra trước mặt mọi người để bạch hoá rõ ràng với họ.

         Còn vấn đề ông nói tôi đã “thần thánh hoá Ngài Quảng Độ”.  Đó là ông đã tự giam hãm mình trong tư tưởng lệ thuộc thần thánh đó thôi.  Đạo Phật không có gì là thần thánh hoá cả.  Căn bản của Phật giáo là “Ngũ uẩn giai không” mà ông còn không hiểu, rồi ở trong cái sân si như biển động lại nổi lên những sóng mê chấp có chấp không.  Nào là có Phật Tử chúng ta, có dòng sông mê, nào là có Bồ Tát, nào là thần thánh hoá hay không thần thánh hoá… một tràng ảo tưởng vô cùng tận. 

         Ông có biết trong Luận Đại Trí Độ có nói “18 Không”, trong đó có “Chúng Sanh Không”.   Cái Chúng sanh đó, ông nói “Có” hay là “Không có”?  Nếu ông nói Có tức là rơi vào Thường  Kiến ngoại đạo; còn ông nói Không có  thì lại rơi vào Đoạn Kiến ngoại đạo.   Vậy có Bồ Tát để thần thánh hoá hay không có Bồ Tát để thần thánh hoá?  Nếu ông nói có Bồ Tát để thần thánh hoá thì ông rơi vào chủ nghĩa Thường Kiến cực đoan; còn nếu ông cho rằng không có Bồ Tát để thần thánh hoá thì ông rơi vào chủ nghĩa Đoạn Kiến cực tả.  Ông bảo rằng tôi đã thần thánh hoá Ngài Quảng Độ là Bồ Tát, vậy ông muốn nói Bồ Tát đó trong ý nghĩa nào?  

         Kinh Duy Ma Cật nói:  Tâm Tịnh thì cõi Phật Tịnh

Kinh Pháp Hoa, Ngài Tỳ Xá Phù Phật nói với Trì Địa Bồ Tát:  Tâm bình thì thế giới bình.

         Do đó, ông nên hướng về tâm, chớ nên hướng về thế giới vọng tưởng chứa đầy tham lam xảo trá thì thế giới của ông sẽ phải là chổ hành phạt đoạ đầy vì là kết quả của tâm ham muốn và sân hận.  Kinh Địa Tạng nói: ” Mình gây tội, nghiệp thì sau nầy tự mình lãnh quả báo, dẫu chí thân như cha con, cũng không thể thay thế lãnh tội cho nhau được”.  Ông hãy nhớ điều đó.

         Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật nói: Thế giới của chư Phật như bọt nổi trên biển lớn.  Thế giới của Chư Phật còn như bọt nổi thì có gì đâu mà ông vướng mắc vào Tịnh Độ hay không Tịnh Độ?  

         Kinh Đại Bát Nhã: Khi Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề thuyết Bát Nhã, thì ông Tu Bồ Đề mới bạch với Phật rằng:         -Thưa Đức Thế Tôn, Bồ Tát còn không có thật huống chi danh tự Bồ Tát có thật, như vậy làm sao mà có Pháp Bồ Tát để nói? 

         Bồ tát còn không thật có thì có gì làm ông vướng mắc chuyện “thần thánh hoá ” hay “không thần thánh hoá”.

         Như thế thì rõ biết ông không hiểu gì về ngôn ngữ Phật đạo.  Đã không hiểu ngôn ngữ Phật Đạo, còn làm thầy đời tuông luận lý mê hoặc chúng sanh thì càng thêm si mê.

Ông có thấy mây trời bay qua lại tự do trong hư không không?  Tại sao vậy?  Vì không có gì treo nó. Nay hai chữ Danh Lợi và Tham sân đã treo giữ tâm hồn ông rồi, thì làm sao hiểu nỗi ngôn ngữ nhà Thiền?

         Ông nói: ” Nhưng đối với Phật tử chúng ta thì khoảng ngăn cách đó như một dòng song ngăn cách giữa Bến Mê và Bến Giác. Do vậy muốn đến Bến Bờ Giác Ngộ thì phải vượt qua dòng song ngăn cách này; cho nên Phật tử chúng ta phải quyết chí tìm phương cách vượt dòng song ngăn cách bằng cách quyết chí tu học theo Chánh Pháp của Đức Thế Tôn.” (hết trích) 

Tôi hỏi ông :

1. Giòng sông đó là gì?  

2. Cái gì cách biệt giữa Mê và Giác? 

3. Cái biên giới giữa Mê và Giác ở đâu?  

4. Người Phật tử phải đi bao lâu thì mới hết đoạn đường mê?

         Cũng như có người có viên ngọc quí trị giá trăm ngàn lượng vàng.  Người ấy cất viên ngọc quí nầy trong chéo áo lâu ngày nên quên, và tưởng rằng đã mất viên ngọc nên sanh ra tướng khổ đau vô tận.   Vì nghĩ rằng viên ngọc bị trộm mất nên người nầy chạy đông chạy tây tìm kiếm khổ sở cho đến khi thấy lại viên ngọc vẫn còn trong chéo túi của mình thì cái đau khổ cũng không còn. Lúc bấy giờ tâm tỉnh lại mới biết mình đã mê.  Vậy cái mê đó có thật không?  Cái mê đó từ đâu mà có? Cái đau khổ trước kia nay đi đâu mất rồi?  Thì rõ ràng là cảnh huyễn.  Biết huyễn tức giác.  Vậy giữa cái Mê và Giác có dòng sông nào cách biệt?  Cái thế giới trước cơn mê và sau cơn mê giống nhau hay là khác nhau?   Thế giới chính giữa đang lúc mê có thật hay không? Thật ra, hai cảnh trước và sau mê nầy không khác nhau, nhưng do tâm si mê cuồng sợ mà thành ra có hai thế giới Mê và Giác khác nhau. Phải không?  Làm gì như có dòng sông nào phân cách giữa Mê và Giác!  Vậy có gì đâu mà ông vướng vào ấn tượng “thần thánh hoá Bồ Tát” hay “không thần thánh hoá Bồ Tát”.   Lại nữa, nếu có giòng sông mê như ông nói, thì người ác cho đến bao giờ mới phục thiện?   Nói theo ông thì phải bơi hết giòng sông mê mới qua tới bờ giác, người ác phải làm ác đến tận cùng các việc ác rồi mới có cơ hội làm lành?   Trên thực tế làm gì có chuyện đó!  Ông chớ nên hiểu lầm trong Phật Pháp có giòng sông mê hay không có giòng sông mê.  Chỉ có chính bản tâm ông mê thôi.   Trong Kinh Phật thường thí dụ như có một căn phòng tăm tối mãi ngàn năm, một hôm có người thắp một ngọn đèn sáng, thì có phải chăng người ấy phải chờ đến cả ngàn năm mới thấy được cảnh vật trong căn phòng nầy hay người đó thấy liền cảnh vật trong phòng ngay lập tức khi vừa có ánh sáng ngọn đèn? Vậy giữa cái cái không thấy và cái thấy là cái gì?  Cái khoảng cách giữa cái thấy và cái không thấy bao xa?  Rõ ràng là không có một khoảng cách nào cả.   Cũng vậy cái mê và cái ngộ chỉ khác nhau ở sự thật bị che đậy.  Nếu tìm thấy và chấp nhận sự thật thì mê ngộ đồng nhau.  Nay ông không bao giờ chịu chấp nhận sự thật, làm sai trái  mà không thấy mình sai trái, thì tự ông thấy có giòng sông mê, chớ đừng bảo các Phật tử kia có giòng sông mê như ông vậy! 

         Nay nói về Tịnh Độ, có một thiền sư làm bài thơ:

         Khi chưa tu thấy núi là núi, sông là sông,

         Lúc đang tu thấy núi không là núi, sông không là    sông.

         Khị ngộ rồi thì núi vẫn là núi, mà sông vẫn là sông.

         Cảnh giới “không mê” là Tịnh Độ.  Ông còn mơ màng Tịnh Độ ở đâu nữa?  Thí dụ như ông, trong tâm đầy ấp những sân si phiền não nên thân, khẩu, và ý tạo nhiều trọng nghiệp khiến cho hậu thân phải chịu nhiều quả báo khổ đau vô tận, sau nầy khi trả hết nghiệp xưa, tỉnh lại mới biết mình đã và đang ở trong Tịnh Độ mà không biết hưởng như kẻ đã tưởng mình mất ngọc quí.   Còn Ngài Quảng Độ không mê nên đã sống trong cảnh Tịnh Độ rồi thì có gì lạ đâu mà gọi là thần thánh hoá?  Tuy nhiên Tịnh Độ là thế giới của Trực Tâm và Thành Tín Tâm, kẻ có tâm dua dại không thể nào hiểu nỗi.  Ông không biết Tịnh Độ như thế nào thì chớ nói càng! 

Tôi có làm một bài kệ về Tịnh Độ để cho ông chiêm nghiệm: 

Trong hoa sen có hạt sen,

Trong hạt sen lại có hoa sen,

Hạt không trước, hoa không sau

Tánh giác là nhân, Tịnh Độ là quả

Trong quả có nhân,

Trong nhân có quả

Nhân quả đồng thời,

Chẳng trước chẳng sau,

Liểu nhân đoạt quả,

Quả chẳng rời nhân,

Lìa nhân, lìa quả,

Một niệm không sanh

Niết Bàn Tự Tánh.  

 

         Hy vọng ông hiểu được ít nhiều, nếu ông giảng được bài thơ của tôi, thì mới bắt đầu hỏi Ngài Quảng Độ.  Còn nếu như ông không giảng ra nỗi thì cũng nên liệu thế rút lui, đừng tiếp tục lên giọng thầy đời gạn hỏi người nầy, bắt bí người kia mà thiên hạ chê cười. Chúc ông may mắn.  

Huệ Lộc

Tôn Thắng Đạo Tràng 

1/25/2015

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s