(Hương Trần) CHIA SẺ VỀ THIỀN

keyboard-142332_640Thưa qúy vị Phật Tử cùng ông Thích Vô Thường,

Bài viết về Sự Thật Thiền Là Gì dưới đây phần trên của bài viết lại có kèm theo hai phần riêng, 1 là của Thích Vô Thường và 1 là của Sư Bà Thích Ni Liên do nhân vật Thích Vô Thưòong gửi lên diễn đàn và kêu gọi Phật Tử chúng tôi đọc để xem Thiền là gì. Tôi xin được dựa và đó để viết lời chia xẻ về THIỀN, mong rằng mọi người tùy duyên nhận thức.

Trong bài viết về Thiền của tác gỉa Thích Vô Thường cho thấy người này đã có công nghiên cứu về Thiền của Phật Giáo cũng khá lâu dài, tuy nhiên…. Thời gian không chứng minh được sự hiểu biết và chứng đắc của một con người, bỡi con người sanh ra không ai giống ai cả, có người chỉ cần một chữ cũng đã ngộ, có người nói bao nhiêu cũng không ngộ, có người đọc vài chữ thì đã hiểu, có người đọc hàng triệu quyển sách nhưng không hiểu gì cả. Sự ngộ và hiểu đây không phải qua văn tự, sách vỡ, hoặc thời gian, địa điểm mà là sách vỡ, văn tự, thời gian, địa điểm chỉ là phương tiện để kích thích những gì trong tìm ẩn của một con người. Trong cái tìm ẩn đó rất vi diệu, không những có chánh, tà, thiện ác mà còn có luôn cả Phật, Bồ Tát, Thiên, Nhân, Súc sanh và luôn cả yêu ma qủy quái mà người bình thường không thể phát giác ra nó ngay tại trong bản thân của họ, do đó Phật Giáo là con đường chỉ điểm ra cho họ thấy được cái tìm ẩn đó ngay trong bản thân của họ để tu hành.

Nói đến Thiền thì không thể nào thiếu được hai chữ TU, HÀNH. Ông Thích Vô Thường tuy đã dùng rất nhiều văn tự để nói về Thiền, nhưng không một chữ nào để cho thấy người này hiểu và đã từng NẾM THỬ MÙI THIỀN là gì. Nếu như Thiền chỉ là đơn thuần NGỦ và biến cho mình thành kẻ mê muội, ngu si như tác gỉa nói thì Đức Thích Ca Mâu Ni không thể nào trở thành một Nhà Tiên Tri nổi tiếng. Đức Thích Ca Mâu Ni đã là một Vị Tiên Tri nổi tiếng và đã là Thầy Của Chúng Sanh, đó cũng là do Ngài ngồi THIỀN để tìm ra sự sanh diệt của các Pháp trong đời sống của mỗi bản thể và phải qua sự TU HÀNH để gột rửa từng phân đoạn sự sanh diệt của các Pháp trong từng bản thể.



Để đạt tới mức Giác Ngộ hoàn toàn, Đức Thế Tôn đã phải mất 49 năm tu hành. Thời gian 49 năm Ngài không ngừng suy xét và gạn lọc cho đến khi Ngài tìm ra chơn lý đời sống bản thể. Sự suy xét, gạn lọc và tìm hiểu đó không gì hơn là TU HÀNH. Tu là sửa đổi từ cái xấu đến cái tốt đẹp hơn, sáng lạng hơn, cho đến khi nào không còn cái gì xấu xa để sửa nữa và không còn thấy điều gì vướng mắc nữa thì lúc đó mới thấy Chơn Như. Hành là phải thực hiện. Thực hiện điều gì? Thưa rằng, thực hiện sự quyết tâm tìm kím sự xấu xa, sai trái của mình để thực hành điều tốt và không vương những thói xấu đó nữa, có nghĩa là làm sao cho những pháp sanh diệt trong bản thể và pháp sanh diệt của duyên không còn sanh diệt thì đó mới là Chơn Như. Nếu như ông Thích Vô Thường nói rằng Thiền không cần tu hành là sai, một sự sai lầm to lớn mà người bình thường cũng có thể nhận ra, bỡi nếu nói Thiền mà không Tu Hành thì Thiền cái gì?


Tôi không muốn nói dài dòng văn tự, cũng không muốn đôi co trên văn tự với ông Thích Vô Thường, tôi cũng không muốn dài dòng với Sư Bà Thích Ni Liên. Tôi xin phép được chia xẻ về Thiền như tôi được biết như sau. Tôi cũng xin được nói rõ rằng, mọi sự đều tùy duyên, không miễn cưởng ai phải tin lời tôi nói hoặc phải chấp nhận lời tôi nói là thật nếu qúy vị chưa thực hành. Tôi xin được chia xẻ theo từng phần như sau:


1_ Văn Tự Dịch Kinh Phật Giáo: Phật Giáo là Đạo chỉ về TÂM và GIÁC. Phật Giáo du hành tùy duyên, không bị ràng buộc bỡi bất cứ pháp nào của thế gian. Văn tự thế gian chỉ là phương tiện, cũng ví như ngón tay chỉ mặt trăng. Tôi xin hỏi một câu ví dụ như: Trên thế gian này không có tiếng Việt thì thử hỏi Kinh Phật truyền giáo bằng ngôn ngữ gì? Cũng vậy thôi. Phật Giáo du nhập vào Việt Nam vào thời người dân Việt Nam đang dùng tiếng Hán Nôm là ngôn ngữ, do đó đã có những Kinh Điển viết bằng tiếng Hán Nôm, vào thời đó chữ Quốc Ngữ chưa ra đời thì lấy đâu ra chữ Quốc Ngữ để viết? Vã lại, chữ Quốc Ngữ thời nay được gọi là tiếng Việt đều viết theo phiên âm của tiếng Hán Nôm hoặc tiếng Nho mà ra. Lại nữa, thời nay tiếng Việt bị ngoại lai của loài gì tôi không được rõ, bỡi nước Việt Nam là Quốc Gia của dân tứ xứ, do đó có nhiều chũng tộc không rành tiếng Hán Nôm, Nho, mà chỉ biết chút đỉnh tiếng Việt, cho nên họ đã biến dạng văn chương Việt Nam thành những loại văn chương eo hẹp, vô nghĩa, không còn phong phú như xưa, nhất là bọn cộng sản đã biến tiếng Việt thành một ngôn ngữ mèo kêu, vượn hú. Văn chương Việt Nam ngày nay một chữ chỉ có thể hiểu theo 1 phương diện eo hẹp, nhiều khi không rõ nghĩa, không thể hiểu rộng rãi và sâu xa như văn tự xưa, do đó nếu Kinh Điển Phật Giáo không dịch ra thành tiếng Quốc Ngữ Việt Nam thời nay thì không có gì là lạ cả, bỡi Kinh Điển Nhà Phật không bị hạn hẹp ở 1 phương diện nào mà phải là bao quát trên mọi phương diện để tùy  người, tùy căn cơ hiểu biết mà tu hành. Bản thân tôi, tuy là kẻ sanh sau đẻ muộn, nhưng tôi rất muốn nghe Kinh Điển Nhà Phật viết bằng văn Hán Nôm phiên âm tự Quốc Ngữ Việt Nam, vì tôi có thể tìm ra được nhiều phương diện khác nhau trong cùng một câu Kinh, tùy vào tình cảnh khác nhau, thời điểm khác nhau, duyên sanh khác nhau, nhờ đó mà tôi có thể thấu đáo được lời Kinh và tự tìm cho mình con đường Tu Hành chơn chánh để đi đến rốt ráo. Để biết mình là một người tu hành theo Phật Giáo nào thiết nghĩ Phật Tử không cần phải dựa trên văn tự, vì ngay chính văn tự cuối cùng rồi cũng phải vứt bỏ để còn lại một chữ HÀNH, thì thử hỏi chấp vào văn tự nào để làm gì? Văn tự nào cũng được, miễn sao văn tự đó có thể giúp cho mình hiểu mình phải làm gì và làm như thế nào mới là cứu cánh thì được rồi.


2_ Truy tầm góp nhặt Kinh Phật: Kinh Phật để lại hằng hà sao số, bỡi Đức Phật thời còn tại thế có chỉ ra 48 ngàn pháp môn tu hành cho 48 ngàn tần lớp căn cơ chúng sanh khác nhau. Cho dù là ở vào tần lớp căn cơ nào đi nữa cuối cùng rồi cũng quy vào một chữ GIÁC. Những lời Đức Thế Tôn dạy và các đệ tử của Ngài đã từng người tùy căn cơ thu thập, sau đó ghi chép lại để truyền đời cho đến ngày nay đã gần 5000 năm. Tôi không phủ nhận Kinh điển bị tam sao thất bổn, đó là do căn cơ của mỗi thời khác nhau, tuy nhiên, không có gì có thể qua được sự BIẾT của Đức Thế Tôn, do đó Ngài đã có câu tiên tri rằng :”Thời mạt pháp sẽ xuất hiện nhiều bất chánh tu sĩ”, và ” Thời mạt pháp sẽ có kẻ sửa đổi Kinh Pháp ta đã chỉ dạy”, do đó Ngài đã để lại cho chúng sanh 1 con đường sáng để đi, đó là một câu Niệm Lục Tự Di Đà và 48 Lời Nguyện Của Đức A Di Đà và bài Đại Bi Thần Chú cho chúng sanh phòng khi Kinh và Chú Lăng Nghiêm bị con cháu ma vương, qủy vương phá hủy. Ngài còn tiên tri rằng thời mạt pháp sẽ có Ngài Di Lặc hạ sanh để cứu chúng sanh trong biển lửa. Thế thì, việc ông Thích Vô Thường cho rằng Kinh Điển Phật Giáo tam sao bao nhiêu bổn đó thì đâu có gì là lạ, sự việc truy tầm góp nhặt để viết ra Kinh Phật thời mạt pháp này cũng chẳng có gì lạ cả, Phật Tử chúng tôi đã biết từ lâu, và chúng tôi cũng đã đề phòng điều này, do đó mỗi Chùa, Tự, Am, nơi đâu là biểu tượng ngôi nhà Phật cho Phật Tử nương tựa đều có những buổi Niệm Lục Tự Di Đà và Niệm Đại Bi Thần Chú, 48 Lời Nguyện Của Đức A Di Đà. Chỉ cần bao nhiêu đó thôi nếu ai nắm vững được thì tự nhiên sẽ an nhiên tự tại, ai không năm vững được thỉ chỉ trách đó là do căn cơ của họ, duyên phần của họ không đủ phước đức để vượt qua nạn hủy diệt của thời mạt pháp, điều này không liên quan gì đến Phật Giáo, bỡi Phật Giáo là ĐẠO GIÁC NGỘ, không hơn không kém, có giác ngộ thì mới tự cứu mình, Đức Phật chỉ là phương tiện, làm kim chỉ nan cho người đời mà thôi chứ không thể nào ban phước hay giáng họa cho ai cả. Do đó, việc chúng sanh thời mạt pháp góp nhặt hay truy tầm gì đó để viết lại cũng chỉ là 1 trong pháp mà Đức Phật nói tới, đồng thời cũng là 1 trong những điều Ngài tiên tri.


3_ Đạo Phật là Đạo không có Phật hay vô minh?: Trước khi chúng ta quyết định Đạo Phật là đạo không có Phật hay vô minh thì chúng ta phải hiểu cho rõ nghĩa của chữ Đạo Phật là gì. Đạo, có nghĩa là con đường, phương hướng. Phật, có nghĩa là TÁNH GIÁC. Như vậy Đạo Phật có nghĩa là CON ĐƯỜNG CHỈ ĐẾN TÁNH GIÁC. Đạo Phật đơn thuần chỉ là vậy thôi. Từ xưa tới nay, bao nhiêu triệu năm trên thế gian này đều đã có Phật, do bỡi con người vô minh nên đã không nhìn ra tánh giác (Phật) của mình. Trước kia trong thời xa xôi, thế gian này không hề có bất cứ một Tôn Giáo nào, mỗi người chỉ yên vui chung sống, sau đó vì lòng tham lam, sân si, yêu hận, ngã mạn, nghi kỵ lẫn nhau, do đó đã khiến cho chúng sanh sống tách rời trong sự ích kỷ, từ đó mới có Tôn Giáo ra đời để lèo lái chúng sanh vào con đường tốt lành, xa lánh tội lỗi, tuy nhiên. Đạo cao 1 thước, ma cao 1 trượng, nếu Chánh Đạo hưng thì tà đạo suy, chúng sanh thì thường ham thích trụy lạc, tranh giành, luyến ái v..v.. hơn là tự kỹ an lạc, do đó dẽ bị chiêu dụ bỡi những thế lực của tâm ma Tham, Sân, Si, Kiến, Ngã, Ái, Dục, rồi dần dà trở thành tà ác, giết hại lẫn nhau để thỏa mãn bản tánh của mình. Thời gian cứ thế mà trôi đi trong vô minh, chớp mắt đã qua bao nhiêu ngàn lần sanh sanh, diệt diệt, mỗi lần sanh ra thì nghiệp lại tạo lớn hơn, mạnh hơn. Cho đến thế kỷ ngày nay 21, chúng sanh trên thế gian này không ai còn nhớ tới những gì mình đã từng cùng nhau gây ra để tạo nên cái thế giới đầy hoan lạc, màu sắc, tội lỗi này, người tu hành chơn chính thì ít là do bỡi nhân ác tạo ác duyên của chúng sanh qúa nhiều, thời này Đức Phật gọi là THỜI MẠT PHÁP. Thời mạt pháp không phải chỉ có Đạo Phật mà còn hàng trăm, ngàn Tôn giáo khác nhau, kinh điển khác nhau, họ có thể nghe lỏm nơi đạo này 1 ít, đạo kia một ít rồi kết nối lại thành đạo riêng của họ và đưa một ông, bà nào đó lên để làm biểu tượng thần thánh để thờ và làm tiền tín đồ, đây là mối họa cho tất cả các Tôn Giáo chứ không riêng gì Phật Giáo. Do đó. Nếu nói rằng Đạo Phật không có Phật cũng không sai, nói rằng Đạo Phật có Phật cũng không sai, đó là vì tất cả do duyên, tùy duyên. PHẬT, tức là TÁNH GIÁC, nếu tu trong Chùa đọc Kinh Điển Phật Giáo mà không hiểu thấu được điều hay trong đó để tự giải thoát cho bản thân mình thì cho dù có ở trong Chùa bao lâu, tụng bao nhiêu lần Kinh, bao nhiêu lần Chú thì vô minh vẫn hoàn vô minh, nhưng nếu người đủ duyên, đúng căn cơ thì cho dù 1 chữ, 1 lời, 1 cảnh tượng cũng đủ cho họ giác ngộ thì ĐÓ CHÍNH LÀ PHẬT. Thế cho nên, ông Thích Vô Thường qủa quyết rằng Đạo Phật là Đạo không có Phật, theo Đạo Phật là theo vô minh, Đạo láo, đây chẳng qua là lời nói của một kẻ VÔ MINH NÓI CHUYỆN VÔ MINH, cũng ví như người mù sờ voi vậy thôi. Vấn đề Đạo Phật là Đạo có Phật hay vô minh thì chỉ có ai tu nấy chứng, ai hành nấy biết, ai nhìn nấy thấy, không ai có thể thấy cho ai, cũng không ai có thể tu hoặc hành cho ai cả.


4_ Thiền là gì: Theo như ông Thích Vô Thường thì THIỀN là ngủ gà ngủ gật…. khi bổn sư chỉ học thuộc mấy câu kinh, không biết gì nói nữa, gỉa vờ nhắm mắt, thế thôi, điều này tôi không phản đối. Sỡ dĩ tôi không phản đối là vì tôi đã từng nói mỗi người có một căn cơ khác nhau, hiểu biết khác nhau, không ai giống ai cả, do đó những gì ý nghĩ của ông, tôi không thể nào phản đối được, vì đó là căn cơ của ông, nhưng tôi có thể chia xẻ ý nghĩa THIỀN LÀ GÌ theo ý nghĩ của tôi như sau:

THIỀN: Nói nguyên chữ là Thiền na, còn được gọi cách khác là NGỒI THUYỀN.

Thiền na là gì?: Thiền na là TỊNH LỰ. Tịnh lự là gì? Tịnh lự là tịnh lại tất cả những xáo trộn, suy tư, cảm nghĩ, ý tưởng, cảm xúc, rộn ràng, mong muốn, sân hận, tham lam, yêu hận, ghét thương, tranh giành, hơn thua, tất cả những thứ này xuất phát từ nhân duyên bên ngoài lẫn tác động bên trong, tất cả đem nó ra mà tịnh lại hết. Để tịnh tất cả những pháp duyên cũng như các tâm duyên, chướng duyên này lại thì có 2 cách Thiền, đó là Thiền Quán và Thiền Chỉ, còn một cách Thiền khác nữa là Thiền Quán Lục Tự Di Đà.

Thiền Quán: Trước khi ngồi thiền, hành gĩa phải tập trung tư tưởng vào hơi thở và hít hơi thật mạnh và thật sâu vào mũi, đưa luồn không khí đó thẳng xuống huyệt đan điền, giữ lại chừng vài giây rồi từ từ đưa luồn khí đó từ đan điền dẫn lên buồng phổi, cuống phổi và thở ra bằng miệng (lần đầu thở mạnh để tống mọi đọc khí trong cơ thể ra, lần 2 nhẹ hơn, lần ta càng nhẹ hơn và chậm hơn.) Sau 3 lần hít thở hành gĩa ngồi xuống (tùy theo khả năng ngồi kiết gìa hay bán gìa, thậm chí không ngồi lâu được thì nằm cũng không sao), chọn cho mình một tư thế thoải mái, nếu ngồi thì tay bắt ấn (tùy thích nghi), hoặc để hai bàn tay xoải nhẹ nhàng lên nhau cũng được, hoặc để hai bàn tay úp vào đầu gối cũng được, nếu nằm thì tùy theo cơ thể thích nghi thoải mái, sau đó tập trung tư tưởng và giữa hai chân mày ở giữa vầng tráng, để tâm trí thoải mái và cứ theo dõi xem những ý tưởng hoặc cảm giác gì xuất hiện trước tiên tức là trong tâm trí của hành gĩa sự việc đó đè nặng và chi phối hành gĩa nhiều nhất, cứ như thế mà theo dõi ý tưởng cảm giác của hình ảnh đó xem cho kỹ nó tuần hoàn trong tâm trí của hành gỉa nhanh hay chậm và khiến cho hành gỉa có những cảm giác gì. Người mới tập ngồi Thiền Quán nếu không tự kềm chế được ý tưởng và cảm giác của mình sẽ rất dễ bị cảnh dẫn dắt đi và rơi vào động loạn, ma cảnh nếu không biết ngừng lại (tịnh) và ngay lúc đó nếu không có vị Thiền Sư cao thâm để dẫn dắt cho hành gĩa quay trở lại thì sẽ bị rơi vào tình trạng tẩu hỏa nhập ma. Do đó, muốn tu theo pháp môn Thiền thì phải tìm cho mình một vị Thiền Sư cao thâm đắc đạo, nếu không thì hậu qủa khó lường hoặc dã cũng chẳng thâm nhập được Thiền thì kết qủa chẳng đến đâu cả.

Thiền Chỉ: Là pháp môn ngưng lại tất cả những ma tâm hoành hành trong tâm, trí chúng ta. Khi ngồi Thiền Quán thấy được ma tâm đó xuất hiện thì liền đình chỉ nó ngay tại đó để nhìn lại xem lý do ở đâu mình sanh ra cái tâm đó, từ đó hành gĩa mới có thể tự mình gột bỏ những cái nhân khiến cho ma tâm đó sanh ra, cứ như vậy từng ma tâm một mà gột rửa, dần dà thì tâm trí của hành gĩa sẽ trở nên trong sáng và an tịnh, ít bị ma tâm (Tham, Sân, Si, Kiến, Ngã, Ái, Dục) chi phối hơn, sau cùng chính mình điều khiển lấy nó chứ không để nó điều khiển mình, lúc đó là mình đã đạt tới mức rốt ráo của Thiền Chỉ.


Tóm lại: Thiền Quán là pháp môn giúp cho ta có thể nhìn thấy cái tâm Tham, Sân, Si, Kiến, Ngã, Ái, Dục của chính bản thân mình trong đời sống thường nhật và Thiền Chỉ là pháp môn giúp cho chúng ta dừng (tịnh) nó lại để không bành trướng những ý tưởng, cảm giác đó để khiến cho mình bị rơi vào vô minh, không tự kềm chế, không tự quán lấy hành vi, lời nói, việc làm của mình. Cả hai đều giúp cho hành gĩa có được tâm an lạc nếu tu đúng, nếu tu không đúng thì tự nhiên sẽ rơi vào điên loạn và trở nên xấu hơn, đây gọi là TU ĐÚNG THÀNH PHẬT, TU TRẬT THÀNH MA.


Trong cuộc sống mỗi người chúng ta đều phải rơi vào sự căng thẳng bỡi những sự việc không như ý, trên thế gian này không có thuốc nào có thể giúp con người dừng lại hay bỏ đi cái căng thẳng đó, ngoại trừ chính bản thân mình nhìn thấy nó và hiểu sự sanh diệt của nó thì nó mới tự mất đi. Những người Mỹ nói riêng, những sắc tộc khác trên thế giới này nói chung đã nhận thức được vấn đề đó qua sự giới thiệu của bạn bè đã từng có thời gian tu tập hoặc qua sách vỡ, họ không phải bỏ sáng theo tối như ông Thích Vô Thường nói mà họ đang bỏ tất cả những gì có thể khiến cho họ bị căng thẳng, đau khổ để tìm cho chính bản thân họ được cảm giác an lạc, cảm giác này có tiền mua cũng không được, chỉ có tu tập để GIÁC NGỘ thì mới có mà thôi, đồng thời, cảm giác này chỉ có người đã GIÁC NGỘ có được mới biết nó như thế nào, người khác không thể biết, cho dù 2 người tu hành cùng một pháp môn cũng không thể nào có cùng một cảm giác, bỡi mỗi người trong qúa trình GIÁC NGỘ nằm trong đường khác nhau, ví dụ như tâm sân của tôi nổi lên trước và tôi quán thấy, ngộ ra và buông xả thì tôi GIÁC NGỘ và cảm giác an lạc tâm sân của tôi trước, nếu ông B tâm tham của ông ta nổi lên trước thì ông ấy GIÁC NGỘ tâm tham trước và an lạc tâm tham. Mỗi cái Giác Ngộ và an lạc không giống nhau, nhưng cuối cùng rồi cũng trở về tánh KHÔNG, đây mới là sự AN LẠC thật sự mà Chư Phật muốn nói tới. Như vậy tuy 2 người cùng tu một pháp môn nhưng lại ngộ ở 2 con đường khác nhau là vậy.



Thiền Niệm Lục Tự Di Đà: Đây là một loại Thiền Tịnh song tu, phải là người thượng căn, thượng cơ mới thực hành rốt ráo được. Không những Thiền Quán Lục Tự Di Đà mà còn Thiền Niệm Chú Đại Bi, Chú Lăng Nghiêm, và các Chú khác đều có một công năng giống nhau và cùng một căn cơ giống nhau, do đó tôi không chia xẻ loại Thiền này, bỡi thời nay trong chúng sanh ít có ai đủ căn cơ để hiểu và tu theo Pháp Môn Thiền Tịnh Song Tu mà người tu hành Pháp Môn này chúng tôi thường gọi nôm na đó là Phật Tông.


5_ Thiền ngủ: Đối với thiền ngủ này thời gian gần đây đã rộ lên và mọi người đều biết và trở thành một đề tài cho mọi người tiêu khiển, thế nhưng không ai hiểu biết Thiền Ngủ là gì.

Thiền Ngủ Làng Mai: Tôi không phải là thiền sinh của Làng Mai do ông Nhất Hạnh tạo ra, do đó tôi không biết quy tắc và lý thuyết của loại thiền này là gì, tuy nhiên. Đối với việc ngồi ôm nhau thiền, nằm ôm nhau thiền, ngồi thiền ngáy pho pho, đầu nghẻo sang bên ngáy, người thiền trong tư thế như người đang ngủ và trong tư thế này, tiếng ngáy này kéo dài suốt thời gian ngồi thiền thì đây không phải là ngồi thiền mà là ngồi ngủ đúng hơn. Nếu muốn ngủ thì nằm xuống ngủ cho thoải mái chứ dại gì mà ngồi ngủ cho cơ thể bị bế hơi, huyệt đạo không thông rồi sanh ra nhiều thứ bệnh tật nguy hiểm đến tánh mạng. Khi ngồi thiền, hành gĩa kỵ nhất là ngủ gật, bỡi một khi ngủ gật, tâm trí không được tỉnh táo thì cơ thể co quắp, cơ bắp nhảo ra, khiến cho các cơ bắp trên mặt bị chảy trệ và huyệt đạo toàn thân bị bế tắt, máu huyết không thông sẽ khiến cho hành gĩa bị mơ màng, mộng mị, rơi vào ma cảnh nhưng lại tưởng rằng mình đã đắc đạo thành Tiên, thành Thánh hay thành Bồ Tát, Phật gì đó lại càng nguy. Cách Thiền này là mối nguy hại cho con người chứ không có lợi ích gì cả.

Thiền thở nghe to như ngáy: Người ngồi thiền thở nghe to như ngáy trong vài giây đầu lúc ngồi thiền thì đây không phải là ngồi thiền ngủ ngáy. Trong các cách thiền, có một loại thiền gọi là Thiền Xuất Hồn, loại Thiền này cả Chánh phái lẫn tà phái đều có, các Vị thành Thần, Thánh, Tiên Bồ Tát, Phật cũng đều có công năng Thiền này, kể cả những kẻ tà giáo cũng có công năng thiền này nhưng đoạn đường họ đi bị giới hạn, không thể nào vược qua để vào được các tầng Trời mà chỉ có thể đứng bên ngoài các tầng Trời thấp nhìn vào bên trong mà thôi, đó là vì tuy họ có công năng thăng Thiên nhưng vì tâm của họ còn mang nhiều tạp chất nên không thể thông qua cửa các tần Trời được. Nói là cửa của các tần Trời nhưng thật ra thì chẳng có cửa ngỏ gì cả, cũng như cửa địa ngục vậy, cửa hay không cửa là do ở chính bản thân mình tạo ra mà thôi. Khi ngồi Thiền, hành gĩa chỉ cần tập trung vào huyệt Bách Hội và dùng khí dẫn hồn thoát ra khỏi huyệt Bách Hội, do đó trong vài giây đầu tiên nghe tiếng thở như tiếng ngáy vì phải dùng một định lực đáng kể thì mới dẫn hồn xuất ra khỏi huyệt Bách Hội được, hoặc cũng có hành gĩa cần phải tha lực để giúp xuất hồn thì phải đọc câu Thần Chú gì đó, như vậy thì tâm trí của hành gĩa đó chỉ tập trung vào chú lực để mời người chủ của câu chú đó tới giúp sức để xuất hồn, như vậy thì người này sẽ không nghe tiếng ngáy trong vài giây đầu khi ngồi Thiền, sau khi hồn xuất ra khỏi xác thì cái xác không còn biết gì nữa, tiếng thở như tiếng ngáy đó cũng ngưng lại và hơi thở của cái thân xác đó trở nên nhẹ như là không có hơi thở (nếu là người tu hành cao thâm hoặc hồn đó đã đi qúa xa khỏi thân xác đó), nhiều khi giống như là người chết nhưng thật ra không có chết, tình trạng này người ta thường gọi nôm na là “nhập đại định, hoặc Thiền sâu”.


Đối với việc Thiền của Nhà Phật là một pháp môn giúp cho con người tịnh tâm, đầm tính và nhìn thấu suốt mình và các pháp, một khi nhìn thấu suốt rồi thì tự mỗi người có quyền tự chọn lựa buông xả hay tiếp tục bám theo các chướng ngại đó, bỡi vậy thế gian mới có 2 phái Chánh và tà, vì thế cho nên những người Mỹ nói riêng, những người sắc dân khác trên thế giới nói chung sau khi gần gũi, học hiểu Phật Pháp và nhất là có duyên dự những buỗi thiền tu đều quay sang Thiền để tìm sự tĩnh tâm là không nói sai, bỡi hễ ai có thể biết rõ, thấy rõ về bản thân mình từ trong ra ngoài, đồng thời nếm được cảm giác an lạc của Thiền thì tự nhiên sẽ phải khiếp sợ những đoạn đường tăm tối mình đã từng đi qua mà bỏ đi để đi theo đoạn đường tươi sáng mà mình đang đi.


Nói về việc Thiền của Sư Bà Thích Ni Liên thì tôi không có ý kiến, bỡi tôi chưa từng đọc chữ nào về Thiền do bà ấy viết và tôi cũng chưa từng đi nghe bà ấy giảng Kinh Phật hoặc Thiền, do đó những lời người nào viết dưới đây và cho đó là của Sư Bà Thích Ni Liên tôi hoàn toàn không có ý kiến, tuy nhiên, tôi có thể nói rằng. Đối với bà Thích Nữ Ni Liên thì tôi không cho bà ta là một Tu Sĩ thuận thành, có thể bà ta chỉ là người mặc chiếc áo Càsa, cạo đầu trọc nhưng tâm của bà ta không giống tấm vải Càsa tượng trưng cho ruộng phước tu hành và cũng không đạt tới cái KHÔNG như chiếc đầu không tóc của bà ấy.


Kết Luận: THIỀN trong Nhà Phật không phải đơn giản để nói được, vì đây là một sự thực hành của tâm linh, chứng nghiệm của tâm linh, do đó ai chưa từng biết tới việc hành thiền mà chỉ nghe nói hoặc nhìn thấy thì không thể nào hiểu và cũng không thể nào phán đoán được. Những ông linh mục, mục sư có tu học theo pháp môn tịnh tâm, một hình thức của Thiền, tuy nhiên, tịnh tâm chỉ là để giúp cho họ nhẹ nhàng trong giây lát chứ không giúp cho họ tìm thấy rốt ráo chân diện bản ngã và các Pháp. Những thời gian gần đây chúng ta nghe tin tức loan tải, rằng con chiên đã bỏ đạo thiên chúa giáo hết 70 tới 75 phần trăm, đó là vì khi mấy ông linh mục, con chiên, tín đồ khi tu tập tịnh tâm thì họ đã hiểu đâu là sự thật của chân lý và đâu là thật sự ánh sáng con đường đi, do đó họ quay sang Thiền để tìm sự thật của tỉnh tâm. Ai đủ duyên gặp Phật Pháp và tu hành theo Phật Pháp thì chắc chắn sẽ được sáng suốt và trí tuệ chứ không bao giờ bị ngu hay mê mụi như lời của ông Thích Vô Thường nói. Tôi dám bảo đảm đây là điều có thật 100%.


HNTT

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s