TIẾNG LÒNG TA

TIẾNG NÓI PHẬT TỬ CHÂN CHÍNH.

Đặng Tấn Hậu: Tâm Lý Học Phật Giáo.

Related image

Đặng Tấn Hậu

Hai khoa “tâm lý học” (psychology) và “tâm thần học” (psychiatry) chuyên trị bệnh tâm thần dựa trên bản ngã. Cả hai danh từ này rút từ căn “Psyche” là “Ngã (Ego). Ngược lại, Phật Giáo cũng chuyên trị bệnhtâm thần lại dựa trên giáo lý Vô Ngã (Non-Ego), giúp chúng sanh thấy thực tướng của vạn pháp để khôngcòn tâm lo sợ và đạt tới cứu cánh an vui cực lạc Niết Bàn. Vậy, “Tâm” là gì? sự chuyển hóa tâm ra sao?.

Con người gồm có tinh thần và thể xác; phần đông đều nghĩ thể xác có thể già chết, nhưng tinh thần không già chết; lại còn “thường còn” (permanent) “bất biến” (unchanged). Có người ý thức thể xác thay đổi qua thời gian hàng chục năm; thí dụ, từ lúc trẻ tới già, chết; người khác có cái nhìn tế nhị hơn là thể xác thay đổi qua từng hơi thở; còn các bậc thiền sư thấy sự thay đổi qua sự vận hành của tứ đại cực vi.

Nếu nguyên tử của các tế bào là cái gì rất nhỏ thì nhà Phật đề cập đến các yếu tố tứ đại (đất, nước, gió, lửa) còn nhỏ hơn nữa gọi là cực vi vì nếu chẻ cực vi ra thì chỉ còn không gian. Sự vận hành, vận tốc của các nguyên tử, cực vi rất nhanh, nhanh hơn cả máy điện tử nên sự nắm bắt được phần cực vi chỉ có thể bằng “Tâm” vì sự thay đổi của “Tâm” còn nhanh hơn cực vi đến 17 lần mà nhà Phật có danh từ “sát na”.

Để dễ hiểu, chúng ta lấy thí dụ chim bay trên trời, máy ảnh phải nhanh hơn vận tốc của chim bay nên mới có thể chụp được hình ảnh chim đang bay. Cùng thế đó, thời gian sinh diệt của tâm bằng 1/17 của thời gian vận tốc của “cực vi” (nguyên tử); nhưng vì sự sanh diệt của “tâm” quá nhanh làm cho chúng ta có cảm tưởng là “tâm” (có người gọi là linh hồn) thường còn bất biến, không sinh diệt qua thời gian.

Triết gia Descartes đã viết “I think, therefore I am” (Tôi suy nghĩ vậy có tôi); tức là sự suy nghĩ là tôi. Nếu đúng vậy thì mỗi giây, mỗi phút, chúng ta có hàng ngàn, hàng triệu tư tưởng sanh diệt. Do đó, có câu một người không thể đi qua dòng sông hai lần” vì trong “tic tac” đồng hồ, người đã khác (vì có tư tưởng khác), các giọt nước của dòng sông cũng khác. Tóm lại, thể xác thay đổi và tâm còn thay đổi nhanh hơn.

TÂM

Nhưng, tâm là gì? theo Phật giáo, tâm (Mind) có đặc tính là sự biết (to Know), nhận thức (to Recognize) nên còn có tên là “Thức” (Consciousness). Tâm có thể tham, sân, si hay từ bi và trí tuệ v.v. Vậy sự khác biệt giữa các tâm này là gì? Xin thưa, tất cả đều không khác, nhưng vì sự học hỏi, Phật Giáo tạm chia tâm ra làm hai gồm có tâm vương (tâm chánh) và tâm sở (tâm phụ) ví như danh từ là chính và tính từ là phụ.

Tính từ đi theo danh từ để cho danh từ rõ nghĩa hơn. Tâm sở đi chung với tâm vương để phân biệt tâm thiện, bất thiện và giúp cho chúng ta làm cách nào chuyển hóa tâm từ bất thiện sang thiện, từ phàm trở nên thánh v.v. Thực chất, tâm vương và tâm sở có cùng đối tượng, cùng sinh và cùng diệt. Hình #1 liệtkê 52 tâm sở có thể đi chung với các tâm vương thiện hay không thiện hoặc là tâm của bậc thánh nhân.

Như đã viết, thời gian của 1 tâm bằng 1/17 vận tốc của tứ đại (cực vi=nguyên tử) luân chuyển không ngừng như các giọt nước trong dòng sông chảy ra biển, bốc thành hơi, rồi tạo thành mưa, trở thànhdòng sông lại chảy ra biển ngày đêm. Vì thế, có thể hiểu tâm sanh diệt trôi chảy không ngừng từ vô thủy đến vô chung; đây là sự khác biệt về khái niệm “vô thường” về tâm (linh hồn) giữa PG và tôn giáo bạn.

Hình #1: Tâm Sở

Bảy tâm sở phổ thông thường thấy có ở tâm vương thiện hay bất thiện là: 1.xúc, 2.thọ, 3.tưởng, 4.tác ý (hành), 5.trụ, 6.mạng căn (sự sống của tâm), 7.chú ý.

Sáu tâm sở riêng biệt có thể có hay không có ở cả hai tâm thiện hay bất thiện là: 8.tầm (hướng về), 9.sát (quan sát), 10.quyết định, 11.tinh tấn, 12.phỉ (ưa thích), 13. ý muốn (vị tha hay ích kỷ). Đó là 13 loại tâm sở đi chung với tâm vương thiện hay bất thiện.

Bốn tâm sở bất thiện phổ thông thường thấy trong tâm bất thiện là: 14.si(không biết chân lý), 15.không ghê sợ tội lỗi, 16.không hổ thẹn tội lỗi, 17.phóng dật (không yên ổn).

Mười tâm sở bất thiện có hay không có trong tâm bất thiện là: 18.tham ái,19.tà kiến, 20.ngã mạn (chấp ngã), 21. ác ý, 22.ganh tỵ, 23.xan tham (không muốn ai hơn mình), 24.lo âu (hối tiếc), 25.hôn trầm, 26.dãdượi, 27.hoài nghi. Mười tám tâm sở thiện phổ thông thường thấy trong tâm thiện là: 28.lòng tin, 29.niệm, 30.hổ thẹn, 31.ghê sợ, 32.không tham (bố thí), 33.không sân (tâm bi), 34.xả, 35.antịnh tâm (nghịch lại chao động), 36.antịnh thân, 37.nhẹ nhàng tâm (thư thới), 38.nhẹ nhàng thân, 39.mềm dẻo tâm (dịu dàng) , 40.mềm
dẻo thân, 41.thích ứng tâm (uốn nắn), 42.thích ứng thân, 43.tinh luyện tâm (thuần thục), 44.tinh luyện thân, 45.ngay thẳng tâm (chính trực), 46.ngay thẳng thân.

Ba tâm sở thiện tiết chế là: 47.chánh ngữ, 48.chánh nghiệp, 49.chánh mạng.
Hai tâm sở thiện vô lượng là: 50.lòng từ (tình thương), 51. lòng hỷ và 1 tâm sở thiện trí tuệ là: 52.trí tuệ.

*mặc dù PG đề cập nhiều đến “thân”, nhưng thực chất vẫn là “tâm” vì không có tâm thì thể xác không khác gì cây cỏ. Thí dụ, thọ thân (khoái lạc, đau đớn) và thọ tâm (vui, buồn, vô ký) nên thọ phân chia thành 3 hay 5 tùy sự học hỏi.

Khi tâm (thần thức) gá vào minh châu, tinh trùng của cha mẹ trở thành một chúng sanh thì đó là “kiết sanh tâm” và tâm cuối của thể xác khi chết gọi là “tử tâm” (hay còn gọi là cận tử nghiệp). Kiết sanh tâm và tử tâm chỉ xảy ra 1 lần trong đời người. Các tâm xảy ra khoảng giữa hai tâm trên gọi là “hữu phầntâm” trôi chảy liên tục trong lúc ngủ mê hay thức và có tên gọi khác nhau tùy lúc, tùy hoàn cảnh. Thí dụ,

Tử tâm là tâm nhân sinh ra tâm quả là “kiết sanh tâm” và “hữu phần tâm”. Tâm khởi lên khi có đối tượng sẽ tạo nghiệp. Nếu không có đối tượng, hữu phần tâm dù vẫn trôi chảy, nhưng không tạo nghiệp ví như nước chảy lặng yên, không có sóng gió. Lúc này, tâm có tên là “A lại da thức”.

Khi có đối tượng, tâm khởi lên lúc ban đầu gọi là “mạt na thức” chấp vào “ngã” (Ego) do vô minh; tiếp theo là lục thức (1).

LỘ TRÌNH TÂM

Hình #2 liệt kê các chức năng và ẩn dụ của tâm khi có đối tượng; đặc biệt là 7 chập “tốc hành tâm” (Javana) và 2 tâm ghi nhận (còn gọi là tâm quả). Khi nào tâm có đầy đủ cả 17 chập để đón nhận đối tượng thì gọi là tâm rõ ràng nên chắc chắn tâm quả sẽ trổ ra dễ dàng; ngược lại nếu không có đầy đủ 17chập tâm vì không rõ ràng hay mờ nhạt thì quả khó trổ ví như có sự khác biệt giữa ngộ sát và cố sát.

Hình #2: Lộ Trình của Tâm

17 Chập Tư Tưởng                                                           Thí Dụ
1 luồng hộ kiếp đã qua                                              người đang ngủ mê
2 hộ kiếp rung động                                                  luồng gió chao động
3 hộ kiếp đứt dòng                                                    trái xoài rụng làm giựt mình
4 ngũ môn thức & ý môn thức                            hướng về trái xoài
5 ngũ quan thức                                                        thấy vật, nhưng chưa biết gì?
6 tâm tiếp thâu                                                          lượm trái xoài lên
7 tâm quan sát                                                          quan sát và ngửi
8 tâm quyết định                                                       biết trái xoài ăn được
9-15 Tốc Hành Tâm (Javana)                                    Ăn trái xoài
16-17 Tâm ghi nhận                                                  Ăn xong rồi ngủ trở lại

Người học Phật ý thức dấu ấn (imprint) trong tâm thức rất quan trọng như lạy Phật, đọc kinh, trì chú, cầu nguyện v.v. rất cần thiết trong đời sống vì mục đích là làm cho tâm ghi nhớ rõ ràng đối tượng để lúc sống cũng như lúc lâm chung, lúc nào cũng tưởng nhớ đến điều lành, tránh điều ác hầu tạo nghiệp tốt cũng như tái sanh về nhàn cảnh (vì cận tử nghiệp sẽ sanh ra quả là kiết sanh tâm của kiếp sống vị lai).

Người đồ tể thường thấy cảnh thú bị giết nên lúc lâm chung thấy cảnh máu me, thần thức không thể nào tránh khỏi cảnh này, chắc chắn “sanh tâm” sẽ rơi vào ác cảnh. Ngược lại, người trì chú, đọc kinh, cầu nguyện v.v. thì sớm hay muộn gì người này cũng sẽ tái sanh vào nhàn cảnh. Có trường hợp đặc biệt do nghiệp báo từ đời trước làm thiện, người ác đời này có thể thấy cảnh tốt và sẽ tái sanh vào nhàn cảnh.

Như đã viết, dòng Javana (tốc hành tâm) có 7 chập rất quan trọng vì là nhân sẽ gây ra quả. Chập đầu của tốc hành tâm tạo ra quả trong kiếp sống này, chập thứ 7 của tốc hành tâm sẽ gây ra quả ở kiếp kế (còn gọi là cận tử nghiệp). Nếu cả hai chập này không tạo ra quả thì kể như quả không trổ. Năm chập giữa có thể gây ra quả bất cứ lúc nào trong đời sống tái sanh luân hồi cho đến khi chấm dứt sanh tử trong 6 cõi.

Vì thế, có những vị đã đắc đạo như ngài Mục Kiền Liên, nhưng tuổi thọ chưa hết nên thân của ngài còn nhận chịu nghiệp quá khứ đã gây ra (dù ngài không còn tạo nghiệp trong hiện tại); do đó, ngài đã bị bọn cướp giết chết. Ngài đã dùng thần thông nhiều lần vì lòng từ bi để giúp cho bọn cướp không tạo ác nghiệp, nhất là giết hại bậc thánh tăng đắc đạo, nhưng cũng không tránh khỏi nên ngài đã bị giết chết.

Vũ trụ quan Phật giáo gồm có 3 giới là dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Chúng sanh sống trong cõi dục giới có 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); đôi khi vi tế; thí dụ, trời, thần trong cõi dục giới vẫn có thể ăn, ngửi thực phẩm cúng dường. Cõi sắc giới, vô sắc giới là cảnh trời do kết quả của thiền định. Chư vị sắc giới còn mang sắc pháp (cơ thể vi tế), nhưng chỉ có 3 xứ (nhãn, nhĩ, ý). Vô sắc giới không có xứ nào hết.

Thông thường, người có tâm bất thiện thì sẽ tái sanh vào ba cảnh giới thấp hèn trong dục giới là địa ngục, ngạ quỷ và thú. Nếu có tâm thiện thì tái sanh vào ba cảnh giới cao trong dục giới là trời, thần và người. Nhưng chỉ có người hành thiền mới tái sanh vào cõi sắc giới, vô sắc giới tùy theo đối tượng thiền định, ý muốn tái sanh nào vào cảnh giới thiền sắc giới hay vô sắc giới. Hình #3 liệt kê đề mục thiền định.

 

Hình #3: Các Đề Mục Thiền Định

 

Đề Mục

a. đất, nước, lửa, gió, mầu, ánh sáng, không gian, hơi thở

b. tử thi hay bộ xương.

c. Tam Bảo, Trời, Sự Chết

d. từ, bi, hỉ, xả chỉ có ở ngũ thiền

e. phân tích tứ đại

f. không gian

g. thức vô hạn

h. hư không

i. phi phi tưởng

 

Căn Tánh   

a. tất cả, sân hận (mầu), phóng dật (hơi thở)

b. ái dục

c. lòng tin

d. sân hận

e. tri thức

f. tất cả

g. tất cả

h. tất cả

i. tất cả 

Đắc Thiền

a. sơ thiền đến ngũ thiền

b. chỉ đắc sơ thiền

c. không đắc thiền

d. Sơ thiền đến tứ thiền

e. không đắc thiền

f. sơ thiền vô sắc

g. nhị thiền vô sắc

h. tam thiền vô sắc

i. tứ thiền vô sắc

Khi các vị trời vô sắc giới chết đi, chư vị có thể tái sanh trở lại cõi trời vô sắc giới hay cõi người vì có 3 căn hay tam nhân; tức là người không tham, không sân và không si. Dù các vị này chưa chứng nghiệm Niết Bàn, nhưng có đầy đủ khã năng để đắc thiền và đắc đạo quả Niết Bàn. Các vị trời sắc giới cũng là bậc tam nhân nên cũng có thể tái sanh vào bất cứ cõi nào. Người có 2 căn chỉ có thể tái sanh vào cõi dục giới.

Những người tạo ác nghiệp, chắc chắn sẽ tái sanh vào ba cõi thấp hèn; còn người nghiêm trì giới luật, chắc chắn sẽ tái sanh về ba cõi an lành trong dục giới. Dù cõi người không sung sướng bằng cõi thần, cõi trời; nhưng người biết đạo chỉ mong được tái sanh làm người có đầy đủ ba căn; nhất là đừng có “vô căn” (đui mù, điếc) vì kiếp người có đời sống đủ dài tu tập, kinh nghiệm khổ đau, có trí tuệ học pháp.

Kinh Pháp Cú số 182 có câu: “Khó thay được sinh làm người! Khó thay được sống trường thọ! Khó thay được nghe Phật Pháp! Khó thay được thấy Phật ra đời!”. Vì thế, nhiều hành giả tu Phật, nếu không tu thiền thì cũng cố gắng tinh tấn làm điều thiện để lúc chết sẽ tái sanh trở lại làm kiếp người với điều kiện sinh vào trong gia đình biết Phật Pháp, có điều kiện để có thể tinh tấn tu hành và học hỏi Phật Pháp.

THIỀN

Phật Giáo VN có danh từ “Thiền Na”, “Thiền Định”, “Thiền Chỉ” phiên âm từ PG Trung Hoa là Chan(a), Chan (Nhật là Zen). Danh từ này phiên âm từ Phạn ngữ “Dhyana” (đọc là Chyana) tức là định tâm. Tưởng cần biết, kỹ thuật “tâm định” đã có trước thời Đức Phật Thích Ca. Lão giáo cũng có kỹ thuật điều phục hơi thở để trường sanh bất tử (?) nên người Tầu hiểu sai “chuyển hóa tâm PG ” là “Thiền”, “Thiền Định”.

PG có chữ “Bhavana” diễn tả “sự chuyển hóa tâm” gồm có định và quán. Kỹ thuật “thiền định” không dẫn đến giác ngộ chân lý, giải thoát sanh tử, thoát ra khỏi nhà tù tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) mà chính “thiền quán”; đây là thiền PG do chính Đức Phật khám phá. Thiền định là điều kiện cần, nhưng không đủ để giúp hành giả thấy thực tướng và giác ngộ “Tứ Ấn” (vô thường, khổ não, vô ngã, Niết Bàn).

Thiền định còn có danh từ khác là “thiền tam ma đề” phiên âm từ Phạn ngữ “Samadhi” tức là chú tâm về một điểm hay còn có tên khác là thiền chỉ. Thiền định còn có danh từ nữa là “xa ma tha” dịch âm từ Phạn ngữ “Samatha” tức là an lạc, hạnh phúc vì quả của thiền định là sự an lạc (nhưng không đưa tới giải thoát). Để chứng nghiệm, khi đang giận, chúng ta thử hít vô, thở ra 5-6 lần thì sẽ thấy bớt bực tức.

Nếu thiền giả tu thiền định và đắc ngũ thiền, họ sẽ có 5 lực làm cho tư tưởng trở nên mạnh sinh ra 5 thần thông: thần túc thông (biến hóa nhiều thân), thiên nhĩ thông (nghe được tiếng từ xa hay từ muôn thú), tha tâm thông (đọc được tâm trí người khác), túc mạng thông (nhớ kiếp trước của mình và của người), thiên nhãn thông (thấy cảnh vật mà mắt phàm không thấy). Vì thế, thần thông không có gì xa lạ.

Ngũ thiền là gì? là trạng thái của tâm chuyển hóa từ phàm trở nên tâm của các vị trời sắc, vô sắc do thiền định mang lại. Thí dụ, khi hành giả thiền định về hơi thở dịch từ Phạn ngữ Anapanasati (2), hành giả có thể đắc sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, ngũ thiền và tái sanh vào cảnh trời sắc giới theo sự chứng đắc. Thí dụ, cõi phạm thiên là sơ thiền, vô lượng quang là nhị thiền, vô lượng tịnh là tam thiền v.v.

Khi hành thiền định (3), tốc hành tâm thiện hay bất thiện sẽ trở thành “chuẩn bị” (cho tư tưởng cao thượng), cận hành (gần đến tư tưởng cao), thuận thứ (thích ứng với tư tưởng cao), chuyển tánh (chuyển hóa từ tư tưởng phàm trở nên cao thượng) và cuối cùng là tâm thiền sắc giới hay vô sắc giới tùy theo đối tượng, ý muốn của thiền giả. Cận tử nghiệp sẽ đưa họ tái sanh vào cảnh trời của các cõi thiền.

Người mới đắc sơ thiền có 5 tâm sở như sau: – Tâm hướng về đối tượng (tầm) đối trị với tâm sở hôn trầm – Tâm quan sát đối tượng đối nghịch với hoài nghi – Tâm thọ phỉ đối trị với tâm sân hận – Tâm an lạc đối trị với sự phóng tâm – Tâm trụ vào một điểm đối trị với tham dục. Làm sao biết mình đắc sơ thiền? khi nào chư vị có thể hành thiền bất cứ ở đâu? bất cứ lúc nào? thời gian tùy thích? và có các tâm sở trên.

Người đắc nhị thiền không cần có tâm tầm tức là không cần có đối tượng để trước mặt mà chỉ cần hình dung đối tượng là đủ. Tam thiền là sự chứng đắc không cần có tâm tầm và tâm quan sát. Tứ thiền là khi hành giả không có tâm thọ phỉ. Ngũ thiền không còn tâm an lạc, nhưng lại có sự phát sanh tâm xả và tâm trụ vào một điểm. Từ sơ tới tứ thiền cần có sự an lạc, nhưng ngũ thiền không cần lạc mà thay thế bởi xả.

Cần biết, tâm xả không có nghĩa là bỏ qua, xả bỏ như một số người lầm tưởng. Tâm “Xả” dịch từ Phạn ngữ Upekkha tức là tâm quân bình, không thiên vị, không phân biệt cao thấp với những người khác.

Tóm lại, người thiền định thường an vui vì có tâm thọ phỉ hay an lạc và có tâm xả (khi đắc ngũ thiền) và tâm luôn an trụ vào một điểm nên không bị lo ra. Như vậy, người đắc thiền hay vui vẻ, chú tâm và ít sân hận.

Thiền quán dịch từ chữ Phạn Vipassana tức là sự nhận thức “thực tướng” của vạn pháp, thấy được ba đặc tướng: vô thường, khổ não, vô ngã, diệt trừ gốc rể tam độc tham sân si. Tâm của hành giả thực hành thiền quán cũng sẽ chuyển từ phàm trở nên thánh; nhưng khác với tâm của thiền định là thay vì có tâm thiền (sơ thiền, nhị thiền v.v.v) thì sẽ thay thế bởi tâm đạo (giác ngộ chân lý) và có tâm quả cực lạc NB.

Chúng sanh có 10 loại tâm “kiết sử” (Samyojana) trói buộc con người vào trong các cảnh giới là: – tham ái dục giới -tham ái sắc giới – tham ái vô sắc giới – sân hận – kiêu ngạo – tà kiến – cúng kiến sai lầm – hoài nghi Tam Bảo – hôn trầm – vô minh. Người hành thiền quán diệt trừ tất cả 10 tâm kiết sử, tinh thần luôn tỉnh thức (awareness), không còn tham ái tái sanh vào ba cảnh giới và thoát ra khỏi nhà tù tam giới.

Khi hành giả diệt trừ được 3 sự trói buộc đầu tiên là “tà kiến, hoài nghi, cúng kiến sai lầm”, vị này có đức tin vững chắc vào Tam Bảo, tâm chư vị trôi vào dòng thánh đầu tiên, trở thành bậc thánh “Nhập Lưu” (Sotapanna). Vị này sẽ không còn bị đọa vào ba ác cảnh vì không còn tạo nghiệp ác. Vị này không còn phạm giới như nói láo, nhưng vẫn còn có lời nói vô bổ. Vị này sẽ tái sanh trở lại cõi dục giới tối đa 7 lần.

Nếu vị “nhập lưu” diệt trừ thêm được hai sự trói buộc là ái dục cõi dục giới và tâm thô về sân hận, vị này sẽ đắc quả vị “Nhứt Lai” (Sakadagami) và sẽ tái sanh trở lại cõi dục giới chỉ 1 lần trước khi đắc đạo quả ALa Hán. Nếu vị Nhất Lai diệt trừ hoàn toàn hai sự trói buộc vi tế “sân hận và dục ái” thì sẽ đắc “Bất Lai”(Anagami), không còn tái sanh về cõi dục giới, nhưng vẫn còn tái sanh vào cõi trời trước khi đắc đạo NB.

Vị “Bất Lai” tiếp tục tu tập và diệt trừ hoàn toàn 5 kiết sử còn lại là tham ái sắc giới, tham ái vô sắc giới, kiêu ngạo, hôn trầm, vô minh thì sẽ đắc đạo quả vị A la hán, còn có tên là Ứng Cúng (xứng đáng được cúng dường) vì vị này đã diệt trừ hoàn toàn các tâm ô nhiễm. Các vị A la hán đã giác ngộ hoàn toàn và không còn tái sanh luân hồi. Chư vị được xưng tán “Thanh Văn Phật”, bậc giác ngộ do nhờ học hỏi Pháp.

Làm sao biết vị nào đang hành thiền định hay thiền quán? Khi nào thiền sinh xuất thiền và cho biết thấy tâm an lạc trong lúc thiền là chúng ta biết vị này hành thiền định vì quả của thiền định là an lạc nên họ trụ nơi đây và khó thực hành thiền quán. Khi thiền sinh xuất thiền và cho biết cảm thấy khó chịu trong khi niệm 4 xứ (thân, thọ, tâm, pháp) hay lo sợ khi thấy ngã (Ego) gần như biến mất thì đây là thiền quán.

Nhiều thiền sinh phát sinh tâm lo sợ vì cảm thấy “Cái Ta” (Ego) không còn nên vội vã xả thiền. Lúc này, thiền sinh cần có các vị thiền sư chứng đắc cận kề chỉ dẫn, khuyến khích thiền sinh tiếp tục thực hành
thiền quán để có kinh nghiệm về hạnh phúc tối thượng khi không còn ngã (Niết Bàn). Kỹ thuật thiền và kinh nghiệm cảm thọ thiền là đề tài tế nhị không phải là chủ đề bài viết này và sẽ trình bày trên bài khác.

KẾT LUẬN

Bốn Chân Lý Cao Thượng (Tứ Diệu Đế) là bài pháp đầu tiên, căn bản, nền tảng của tất cả các tông phái PG gồm có chân lý đầu dạy về tâm bệnh khổ thế gian; chân lý thứ hai là nguồn gốc của tâm bệnh ”ảo tưởng” vô minh sinh ra tham ái, sân hận; chân lý thứ ba là nguồn gốc của tâm bệnh bị diệt trừ nên có an vui hạnh phúc; chân lý thứ tư là phương pháp diệt trừ nguồn gốc của tâm bệnh “tà kiến”, vô minh”.

Nếu nguồn gốc tâm bệnh là “tham-sân-si” thì ba pháp diệt trừ tam độc là “giới-định-tuệ”. Ba pháp còn phân chia thành 8 chi biết dưới danh từ “Bát Chánh Đạo” gồm có: Trí Tuệ (chánh kiến, chánh tư duy), Giới (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng) và Định (chánh tinh tấn, chánh định, chánh niệm). Học hỏi giáo pháp để bíết mục đích, gìn giữ giới để tâm an dễ thực hành thiền định, thiền quán (niệm) có trí tuệ.

Bát Chánh Đạo còn phân chia thành 37 phương pháp tu tập còn biết dưới danh từ “37 phẩm trợ bồ đề”, Thí dụ, chánh tinh tấn gồm có tứ chánh cần (điều ác đã phát sanh thì cố gắng diệt trừ, điều ác chưa phát
sanh thì cố gắng không cho phát sanh, điều thiện chưa phát sanh thì cố gắng làm cho phát sanh, điều thiện đã phát sanh thì cố gắng làm cho tăng trưởng) v.v. Ba mươi bảy phẩm trợ bồ đề gồm có: Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo. Mỗi phẩm là 1 bài pháp dài sẽ được trình bày đầy đủ trong bài viết khác. Có 4 tâm sở được nhắc nhở nhiều lần trong 37 phẩm trợ bồ đề là tinh tấn, thiền định, thiền quán (niệm) và trí tuệ vì tối quan trọng trong pháp thựchành. Điều này chứng minh không học pháp, không tinh tấn, không thiền thì khó ra khỏi nhà tù tam giới.


Như đã viết, PG không phải chỉ có một quyển kinh mà rất nhiều bộ kinh do Đức Phật thuyết; đó là chưa kể các bài kinh do chư tổ đắc đạo chỉ dạy nên kinh nhà Phật nhiều vô số; tựu trung chỉ dạy cách điều phục tâm, trị bệnh tâm khổ đau của chúng sanh tùy căn cơ nặng nhẹ của mỗi người. Vị thiền sư có thể giúp cho mỗi bệnh nhân mau bình phục khi vị này có nhiều kinh nghiệm tâm linh và một vài chứng đắc.

10.4.2018

Ghi Chú:
1. Có 6 căn, 6 trần, 6 thức và 12 xứ. Sáu căn là mắt (nhãn), tai (nhĩ), mũi (tỷ), lưỡi (thiệt), thể xác (thân) và ý. Sáu đối tượng (còn gọi là 6 trần) là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Xứ khác với căn vì căn (môn) là cửa ra vô của thức; còn xứ là nơi chứa thức. Có 12 xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ và ý xứ.

2. Thiền chỉ (concentration) và thiền quán (meditation) có các đề mục hành thiền khác nhau, nhưng đề mục “hơithở” có thể áp dụng cho cả hai pháp thiền định và thiền quán; tuy nhiên kỹ thuật thực hành không giống nhau.

 

Leave a Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: