Toàn Không: TÔN GIẢ MỤC KIỀN LIÊN HỌC THIỀN & NGƯỜI KHỔNG LỒ TRONG HƯ KHÔNG

PHẬT PHÁP

TÔN GIẢ MỤC KIỀN LIÊN

HỌC THIỀN

        Tôn giả Mục Kiền Liên nói với các vị Tỳ Kheo (Tăng) rằng:

       Có một lần Thế Tôn (Đức Phật) ở tại vườn trúc Ca lan Đà thuộc thành Vương Xá, trong lúc đó tôi ở tại núi Kỳ xà Quật cách chỗ Thế Tôn khá xa; một mình tôi ở chỗ vắng vẻ, khởi nghĩ rằng: “Thế nào là sự im lặng của bậc Thánh ?”, và nghĩ tiếp: “Nếu ai dứt bặt có giác (biết) có quán (xem xét, ý thức), nội (bên trong) tĩnh (yên lặng) nhất tâm, không giác không quán, chính định sinh ra hỷ lạc (vui sướng), an trụ (trạng thái yên tĩnh của tâm thức) trọn vẹn ở thiền thứ hai, đó là sự im lặng như bậc Thánh”. Nay ta cũng nên im lặng như bậc Thánh, rồi tôi bắt đầu bặt dứt có giác có quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, chính định sinh hỷ lạc, an trụ đầy đủ. An trụ một lúc như thế rồi tâm tôi lại khởi có giác có quán, mất chính định!

       Ngay lúc ấy, tôi thấy Đức Thế Tôn đứng trước mặt và bảo tôi rằng: “Này Mục Kiền Liên! Hãy cố gắng lên, thầy nên im lặng như bậc Thánh, chớ sinh buông lung”.

       Tôi nghe Thế Tôn nói xong, tức thì tôi liền xa lià có giác có quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, chính định sinh thoải mái, an trụ đầy đủ thiền thứ hai. Khi biết tôi đã an trụ đầy đủ nhị thiền một lúc lâu rồi, Ngài liền biến mất khỏi chỗ tôi. Thế Tôn đã biết ý nghĩ trong tâm tôi, nên khi thấy tâm tôi sinh buông lung, Ngài liền biến khỏi tịnh xá Trúc Lâm, hiện ra trưóc mặt tôi tại núi Kỳ xà Quật để khuyên bảo tôi; và khi thấy tâm tôi đã an trụ thiền thứ hai đầy đủ lâu dài rồi, Ngài mới biến mất khỏi chỗ tôi để trở về tịnh xá Trúc Lâm.

       Một lần khác, tôi khởi nghĩ: “Tại sao gọi là Thánh trụ?” và nghĩ tiếp: “Nếu ai không nghĩ tất cả tướng (muôn hình muôn vật), tức vô tướng, tâm chính thụ (tập trung định tĩnh), thân tác chứng đầy đủ thì đó là Thánh trụ”; rồi tôi lại nghĩ: “Nay ta phải ở ngôi Thánh trụ này”. Tôi bắt đầu không nghĩ tới tất cả các tướng, vô tướng, tâm chánh thọ, thân tác chứng đầy đủ, an trụ. An trụ không bao lâu, tâm chấp tướng lại sinh ra.

       Bấy giờ Thế Tôn biết những gì đã xảy ra trong tâm tôi, nên trong khoảnh khắc Ngài hiện ra trước mặt tôi và nói: “Này Mục Kiền Liên, thầy nên trụ vào chỗ trụ của bậc Thánh, chớ sinh buông lung như vậy”.

       Tôi nghe Thế Tôn dạy xong, liền vội vàng lià tất cả tướng, vô tướng, tâm chính thụ, thân tác chứng đầy đủ, an trụ lâu dài. Khi biết tôi đã an trụ vững chắc rồi, Thế Tôn liền biến mất khỏi chỗ tôi; ba lần như thế, Ngài cũng ba lần thị hiện để dạy bảo tôi như thế.

      Chư Đại đức, nếu nói đúng, người Phật tử từ miệng Phật sinh, từ Pháp hoá sinh, được phần Phật Pháp, người ấy chính là tôi. Vì không cần phương tiện tôi được thiền giải thoát, được tam muội chính thọ, và chỉ trong một ngày mà Thế Tôn dùng thần lực đến chỗ tôi ba lần, dạy bảo tôi, và đem chỗ của  bậc đại nhân kiến lập cho tôi.

      Một lần khác, Đức Phật trú ngụ tại vườn Cấp Cô Độc thuộc nước Xá Vệ (phiá Bắc), trong khi đó ba Tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, và A Nan Đà cùng ở chung tại vườn trúc Ca lan Đà thuộc thành Vương Xá (phiá Nam). Khi gần về sáng, Tôn giả Xá Lợi Phất nói:

– Lạ thay! Tôn giả Mục Kiền Liên! Suốt đêm Tôn giả trụ vào chính định vắng lặng, tôi không nghe tiếng thở cuả Tôn giả.

       Tôn giả Mục Kiền Liên trả lời:

– Đó không phải là chính định tịch tịnh, mà chỉ là thô (sơ) chính định, thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, đêm nay tôi đã hầu chuyện với Đức Thế Tôn.

– Thế Tôn đang ở nước Xá Vệ rất xa nơi đây, làm sao Tôn giả hầu chuyện được? Tôn giả đã dùng sức thần thông đến nước Xá Vệ hay là Thế Tôn đã dùng sức thần thông tới đây?

– Tôi không dùng sức thần thông để đến nước Xá Vệ, Thế Tôn cũng không dùng sức thần thông để tới đây, nhưng tôi vẫn nghe lời của Thế Tôn ở tận nước Xá Vệ. Thế Tôn và tôi đều dùng thiên nhãn để thấy và dùng thiên nhĩ để nghe, nên tôi có thể hỏi Ngài về những điều chưa thông suốt. Chẳng hạn như tôi hỏi “Thế nào là sự ân cần (ý khẩn thiết chu đáo) tinh tấn?” thì Ngài cho biết như sau: “Này Mục Kiền Liên! Nếu ban ngày đi kinh hành hay ngồi thiền, do không bị bất cứ cái gì làm chướng ngại nên tự tịnh tâm mình. Đầu đêm ngồi thiền hay đi kinh hành, cũng do không bị bất cứ cái gì làm chướng ngại nên tự tịnh tâm mình, đó gọi là ân cần tinh tấn”.

       Tôn giả Xá Lợi Phất nói:

– Tôn giả Mục Kiền Liên thật là có sức thần thông lớn, có sức công đức lớn; ví như một núi lớn, có người cầm một hòn đá ném vào núi, đá cũng có cùng màu sắc với núi. Tôi cũng như thế, được cùng với Tôn giả có sức lớn, đức lớn, ngồi cùng toà; những người phạm hạnh (khuôn mẫu đức hạnh) đều phải cung kính cúng dường, những người ấy được lợi ích lớn, nay tôi cũng được lợi ích tốt đẹp.

       Khi ấy Tôn-giả Mục Kiền Liên cũng nói:

– Nay tôi được cùng với bậc đại trí Xá Lợi Phất làm bạn, cũng giống như có người cầm một hòn đá ném vào núi lớn, đá được màu sắc cùng với núi. Tôi cũng như thế, được vinh dự ngồi cùng toà với bậc đại trí Xá Lợi Phất, nay tôi được lợi ích lớn..,. 

NGƯỜI KHỔNG LỒ

TRONG HƯ KHÔNG

         Một hôm, Tôn giả Lặc Xoa Na sáng sớm đến mời Tôn Giả Mục Kiền Liên vào thành Vương Xá cùng đi khất thực. Trong khi đi đường, Tôn giả Mục Kiền Liên miệng mỉm cười, Tôn giả Lặc Xoa Na trông thấy liền hỏi:

– Mỗi khi Thế Tôn (Đức Phật) và các đại đệ tử của Ngài mỉm cười, thì thường có duyên cớ, vừa rồi tôi thấy thầy mỉm cười, vậy thầy mỉm cười là do nhân duyên gì?

       Tôn giả Mục Kiền Liên đáp:

– Câu hỏi chưa đúng lúc, chờ khất thực xong trở về chỗ Thế Tôn, thầy hãy hỏi tôi sẽ trả lời.

       Hai Tôn giả vào thành khất thực, họ ăn xong, rồi cùng đến chỗ Phật, vái lễ, và ngồi vào chỗ, Tôn giả Lặc Xoa Na đến trước Đức Phật thưa:

– Sáng nay, con cùng Tôn giả Mục Kiền Liên ra khỏi núi Kỳ xà Quật để đến thành Vương Xá khất thực. Đang đi đến chỗ nọ, Tôn giả lại mỉm cười, con biết Thế Tôn và các đại đệ tử không bao giờ mỉm cười vô duyên cớ nên con hỏi Tôn giả: “Thầy mỉm cười là do nhân duyên gì?” Khi đó Tôn giả bảo con: “Thầy hỏi chưa đúng lúc, chờ khất thực xong trở về chỗ Thế Tôn, thầy hãy hỏi tôi sẽ trả lời”, bây giờ trước mặt đức Thế Tôn con xin hỏi lại Tôn giả:

– Vì nhân duyên gì lúc đó thầy lại mỉm cười?

       Tôn giả Mục Kiền Liên đáp:

– Giữa đường tôi thấy một chúng-sinh, thân to như cái nhà lầu đi trên hư không khóc lóc, đau đớn, kêu gào, buồn khổ; tôi đã khởi nghĩ là chúng sinh này mang cái thân to lớn như thế mà còn khóc than buồn khổ thì thật là kỳ lạ, nên tôi mỉm cười.

    Bấy giờ Đức Phật bảo các Tỳ Kheo:- Lành thay! Lành thay! Trong chúng Thanh văn của Ta, người có thực nhãn, thực trí, thực nghĩa, thực pháp, quyết định thông suốt, thấy chúng sinh này; Ta thấy chúng sinh này mà không muốn nói ra, e người hoang mang không tin, vì sao? Như Lai đã nói: “Những kẻ không tin lời Như Lai nói là những kẻ ngu si, mãi mãi thọ khổ”.

       Rồi Ngài nói tiếp:

– Thời quá khứ, chúng sinh to lớn kia làm người đồ tể giết trâu bò. Do tội giết trâu bò, nên sau khi chết đi, người ấy liền bị đọa vào Địa ngục, và chịu cực hình hàng trăm nghìn năm; khi ra khỏi Địa ngục, tội báo còn dư, nên phải chịu cái thân to lớn như thế, và phải thọ sự đau đớn buồn khổ như vậy.

       Tôn giả Mục Kiền Liên nói:

– Thưa Thế Tôn, có lần con thấy một chúng sinh cũng to lớn, và toàn thân không có da bao bọc; chúng sinh ấy đi trong hư không, và bị các loài chim, chó đuổi theo cắn xé để ăn, chúng sinh ấy vừa trốn chạy vừa kêu la rất là thảm thiết.

       Đức Phật bảo:

– Chúng sinh ấy, vào thời quá khứ đã làm nghề giết và lột da dê, do tội ấy nên trải qua hàng trăm nghìn năm chúng sinh ấy bị đọa vào Địa ngục chịu vô lượng khổ.  Hết ở Địa ngục rồi sau lại phải mang cái thân ấy là do tội báo kia còn sót lại mà phải tiếp tục chịu khổ.

       Tôn giả Mục Kiền Liên lại nói tiếp:

– Thưa Thế Tôn, có một lần khác, con thấy một chúng sinh cũng to lớn khắp mình có lông nhọn tua tủa như gươm đao; các lông ấy tự nhiên phát cháy đốt thân thể, nên chúng sanh ấy đau đớn vừa chạy vừa kêu la thảm thiết, thật là tội nghiệp.

       Đức Phật bảo:

– Chúng sinh ấy, thời quá khứ làm nghề đồ tể giết lợn (heo), do tội ấy nên trăm nghìn năm đọa Địa ngục chịu vô lượng khổ; tội báo còn sót lại, nên người ấy phải mang cái thân như thế và tiếp tục chịu khổ.

       Đức Phật nói tiếp:

– Tội về giết hại chúng sinh thì vô kể, nói sao cho hết. Các tội khác cũng thế, nhiều vô kể, và bị qủa báo vô cùng khổ sở, nói sao cho hết được!

LỜI BÀN:

       Đức Phật nói: “Những kẻ không tin lời Như Lai nói là những kẻ ngu si, mãi mãi thọ khổ”; tại sao không tin lời Phật sẽ khổ? Vì những điều Đức Phật nói ra đều là sự thật, đều là những lời chỉ dẫn sâu xa giúp chúng ta đi đến chân hạnh phúc; nếu những ai hiểu được tin được, thực hành theo lời Ngài dạy sẽ đạt được mục đích mong muốn và sẽ hết khổ. Còn những người không tin lời Ngài nên không thực hành theo mà còn làm ngược lại lời Ngài nói sẽ chịu khổ mãi mãi là lẽ dĩ nhiên. Thí dụ: Phật tử tại gia hay những ai muốn kiếp sau được tái sinh làm người giàu sang sung sướng khỏe mạnh sống thọ phải thực hành Năm Giới: không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu. Nếu những ai tin lời Phật nói như thế mà thực hành đầy đủ thì kiếp sau sẽ có kết qủa như ý muốn, còn những ai không tin lời Ngài nói tức không thực hành Năm Giới mà còn phạm cả năm điều trên thì chắc chắn rằng người ấy kiếp sau sẽ vào cảnh khổ không thể nào tránh khỏi.

       Trong suốt 45 năm, Đức Phật giảng dạy rất nhiều, cả một kho tàng qúy giá, nhưng hỏi rằng trong nhân loại có bao nhiêu người biết đến Phật pháp; rồi trong số những người được biết và đọc Phật pháp có bao nhiêu người tin tưởng hoàn toàn các lời Ngài nói? Đức Phật đã nói những gì? Ngài nói rất nhiều, một vài điều cơ bản tạm nêu ra đại loại như: Đời là vô thường khổ không vô ngã; xa lià tham sân si ái dục, làm lành tránh làm ác để có nghiệp tốt v.v…. Nếu chúng ta tin lời Ngài nói và thực hành theo thì sẽ bớt khổ hết khổ, tùy theo mức độ chúng ta làm được ít hay nhiều mà hưởng kết qủa tương ứng.

      Về việc người khổng lồ trong không trung là thế nào? Tại sao chúng ta không thấy? Sở dĩ Tôn giả Mục Kiền Liên thấy được người khổng lồ trong hư không là vì Ngài có thần thông, Ngài có Thiên Nhãn nên thấy rõ ràng; vậy những người khổng lồ ấy ở đâu ra? Nếu chúng ta học Phật rồi phải hiểu rằng đây là cõi “Ngạ Quỷ”, thế giới Ma Quỷ, có vô số loại Ma Quỷ khác nhau.

     Cũng như cõi Súc Sinh, Cõi Ngạ Qủy có vô số loài Ma Qủy to nhỏ khác nhau, có loại hiền lành, nhưng cũng có loại hung dữ. Ma Quỷ sống quanh quẩn chung với loài người nhưng có thần thông, biến hóa đi rất nhanh, nhìn và nghe rất xa, vô hình đối với mắt loài người. Ngạ Quỷ ăn bằng tiếp xúc (xúc thực), có dục và cũng có nói năng với nhau trong cùng loại v.v…

     Có những người vì một trường hợp đặc biệt nào đó, họ có thể tiếp xúc được với thế giới Ngạ Quỷ bằng nhìn thấy hình nghe tiếng nói và biết tin tức về việc này việc nọ v.v…, tại sao? Vì Ma Quỷ là vô hình, có thần thông, nên có thể biết và làm được một số việc; tuy nhiên, vấn đề này không giúp gì cho việc giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, nên Đức Phật đã không cho đệ tử của Ngài đi vào lãnh vực này và Ngài thường ngăn cấm làm những việc như bùa ngải, đồng cốt, thờ Ma xó, v.v….,.

Toàn Không

Leave a Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.