TIẾNG LÒNG TA

TIẾNG NÓI PHẬT TỬ CHÂN CHÍNH.

Toàn Không: TU MA ĐỀ LẤY CHỒNG

download (2)

Trưởng giả Cấp Cô Độc có con gái tên Tu Ma Đề, nhan sắc đẹp đẽ, đoan chính, thùy mị, lễ phép, hiếm có trên đời; bấy giờ có Trưởng giả Mãn Tài tại thành Mãn Phú là bạn với Trưởng giả Cấp Cô Độc, có chút việc đến thăm Trưởng giả Cấp Cô Độc. Sau khi trông thấy Tu Ma Đề, ông hỏi Trưởng giả Cấp Cô Độc:

– Có phải cô gái vừa rồi là con gái ông không?

      Trưởng giả Cấp Cô Độc trả lời:

– Phải, đó là con gái tôi đấy.

– Cháu đã có nơi nào hỏi chưa? Tôi có con trai tới tuổi trưởng thành chưa có vợ, tôi có thể làm thông gia với ông được không?

– Việc này không nên, mặc dù dòng họ và tài sản hai bên tương xứng, nhưng việc ông thờ thần và cúng tế thì khác với tôi.

– Mỗi bên chúng ta sẽ thờ phụng riêng, con ông sẽ phụng sự riêng, tự do, tôi không thấy có gì trở ngại.

– Nếu con gái tôi làm dâu nhà ông thì ông tốn tài sản rất nhiều, có thể nói là tới sáu vạn lạng vàng.

       Trưởng giả Cấp Cô Độc nói vậy với mục đích từ chối, không ngờ Trưởng giả Mãn Tài trả lời ngay không cần suy nghĩ:

– Được, tôi hoàn toàn đồng ý như ông đã nói.

– Tôi còn một điều nữa là cần đến hỏi Đức Thế Tôn (Đức Phật) hiện ở không xa đây, nếu Ngài có dạy điều gì tôi phải vâng làm và sẽ trả lời ông lần chót; vậy ông hãy chờ ở đây, không lâu tôi sẽ trở lại ngay.

    Trưởng giả Cấp Cô Độc sắp xếp mau chóng, đến chỗ Thế Tôn cúi lạy rồi đứng qua một bên thưa:

– Con gái Tu Ma Đề của con được Trưởng giả Mãn Tài bên thành Mãn Phú cầu hôn cho con trai, xin Thế Tôn chỉ dạy, con nên gả hay không?

      Đức Phật bảo:

– Nếu gả Tu Ma Đề sang nước đó sẽ có nhiều lợi ích không thể đo lường.

      Nghe Phật nói thế, Trưởng-giả Cấp Cô Độc vui mừng cúi lạy, nhiễu Phật ba vòng rồi trở về bảo Trưởng giả Mãn Tài:

– Việc gả con gái tôi cho con trai ông đúng như những gì mà chúng ta đã nói. Vậy đúng 15 ngày ông đưa con trai với đầy đủ lễ vật để đón con gái tôi tại biên giới giữa hai nước.

1). TU MA ĐỀ VỀ NHÀ CHỒNG:  

     Hai Trưởng giả đều vui mừng phấn khởi rồi chia tay. Đúng 15 ngày, mọi việc sửa soạn xong, Trưởng giả Mãn Tài với con trai cùng sính lễ trên đoàn xe từ Mãn Phú đi qua. Trưởng giả Cấp Cô Độc cũng đã chuẩn bị cho con gái quần áo, trang điểm diễm lệ cùng hành trang trên đoàn xe từ Xá Vệ đi tới, hai bên gặp nhau ở biên giới hai nước. Họ gặp nhau làm thủ tục nghi thức cưới, rồi hai bên chia tay, bên đàng trai rước cô Dâu về thành Mãn Phú.

      Bấy giờ tại thành Mãn Phú có lệ là gả con gái hay cưới cho con trai người nước khác thì sẽ bị phạt bằng cách phải mời tất cả Phạm chí (người dòng Bà La Môn xuất gia tu tập mong sinh cõi Trời Phạm Thiên) ăn một bữa cơm với thịt lợn (heo), canh thịt lợn, và rượu.

      Trưởng giả Mãn Tài biết luật lệ này nên cho sửa soạn cơm thịt rượu, rồi mời hết thảy 6,000 (sáu nghìn) Phạm chí trong nước đến; khi các Phạm chí đến, họ mặc hoặc áo da trắng hoặc có lông thú, nhưng khi vào nhà họ đều vắt lệch lên vai phải để lộ nửa người.

      Trưởng giả Mãn Tài qùy gối trước cửa nhà đón tiếp cung kính làm lễ, khi mọi người đã ngồi xong đâu đó, thì Trưởng giả vào trong bảo Tu Ma Đề ra làm lễ các thầy, Tu Ma Đề từ chối nói:

– Thôi, thôi, thưa cha, con không thể ngó thấy và làm lễ mấy người khỏa thân được.

      Trưởng giả bảo:

– Đây không phải người khỏa thân, không có gì phải hổ thẹn cả, đó là lối pháp phục của họ từ xưa đến nay là như thế đấy.

      Tu Ma Đề thưa:

– Đây là những người không biết hổ thẹn nên mới bày thân thể ra ngoài, có dùng pháp phục gì đâu; xin cha nghe con, Thế Tôn thường nói: “Có hai nhân duyên mà người đời qúy đó là hổ và thẹn. Nếu không có thì cha mẹ, anh em, dòng họ, thân tộc tôn ti cao thấp không thể phân biệt giống như loài vật như gà, chó, lợn, dê, lừa, ngựa”. Thật con không thể lễ bái họ được.

       Anh chồng cũng đến bảo:

– Nay cô nên ra làm lễ các thầy, vì các Ngài đều là Trời mà gia đình tôi phụng sự.

      Tu Ma Đề đáp:

– Tôi không thể lễ những người khỏa thân không biết hổ thẹn giống như loài vật, tôi không thể lễ chó heo lừa được.

      Anh chồng quát lên:

– Ngậm miệng lại, không được nói bậy; đây chẳng phải dối gạt, cách mặc như thế chỉ là pháp phục.

      Bấy giờ Tu Ma Đề khóc òa lên, kể lể:

– Thà cha mẹ, bà con tôi mất mạng, thân chặt ra năm mảnh, tôi trọn không nghe theo điều tà kiến (sai lầm).

      Các Phạm chí đều nghe thấy những lời tranh cãi như thế, bèn lớn tiếng nói:

– Thôi thôi, Trưởng giả, vì sao để đứa tiện tỳ này chửi mắng như thế? Nếu thỉnh mời thì dọn thức ăn mau đi.

      Trưởng giả, chồng Tu Ma Đề và các người phục dịch vội mang đầy đủ cơm rượu thịt tiếp đãi cung kính các Phạm chí; họ ăn uống no say, bàn luận  chút đỉnh, rồi đứng lên đi về.

      Chiều hôm ấy, có một Phạm chí bạn thân trước kia với Trưởng giả tên Tu Bạt từ xa đến thăm. Khi gặp mặt thấy Trưởng-giả buồn rầu, Phạm Chí hỏi:

– Sao mà sầu lo đến thế, chẳng lẽ bị quan hạch tội, hay bị trộm cướp bệnh hoạn?

– Chẳng có những việc ấy, nhưng trong nhà có việc không vừa lòng, đó là tôi cưới con gái Trưởng giả Cấp Cô Độc bên thành Xá Vệ cho con trai tôi nên phạm luật nước, phải mời các thầy đến đông đủ dùng cơm; rồi tôi bảo con dâu tôi ra làm lễ các thầy, nhưng nó không vâng lời còn nói lời vô lễ đối với các thầy, nên tôi buồn khổ; rồi ông kể hết sự việc đã xảy ra cho Phạm chí nghe.

       Phạm chí Tu Đạt nghe xong nói:

– Trưởng giả, thật lạ lùng, cô gái này còn có thể sống mà không cắn lưỡi tự sát hay nhảy từ lầu xuống tự tử thì thật là may mắn lắm đó, vì các Thầy mà cô gái này phụng sự đều là những người phạm hạnh (tu hành giữ giới đầy đủ, nhất là diệt dâm dục, để đạt thanh tịnh) chưa từng có.

      Trưởng giả nói:

– Nghe ông nói tức cười, ông là Phạm chí dị học, sao lại khen ngợi Sa môn (Tu sĩ); họ có oai đức thần biến gì hơn ông và 6,000 Phạm chí ở thành này?

      Phạm chí nói:

– Trưởng giả, muốn nghe thần đức của các Sa môn, thầy của con dâu ông, tôi kể sơ để ông rõ. Có một lần tôi đến phía Bắc núi tuyết sơn đi khất thực trong nhân gian xong, bay đến suối A Nậu Đạt. Ở đó, Trời, Qủy, Thần từ xa thấy tôi đến, đều cầm khí giới đến bảo tôi: “Ông Tiên Tu Đạt, chớ đến suối này, đừng làm dơ bẩn suối; nếu không nghe lời thì tính mạng ông sẽ bị cắt đứt”, tôi nghe họ nói thế, bèn bỏ đi khỏi suối đó đến chỗ không xa mà ngồi ăn. Khi tôi còn đang ăn, có một Sa di (người mới tu chưa tới 5 năm) bay đến suối A Nậu Đạt tay cầm bát, tay cầm áo dơ bẩn. Khi ấy tôi thấy Trời, Qủy, Thần cho đến đại Thần suối A Nậu Đạt đều cung kính nghênh đón và nói: “Kính chào thầy của loài người, xin mời ngài đến đây ngồi”. Bấy giờ Sa di ấy đem cái áo ngâm trong nước, rửa tay, sau đó mới ngồi ăn ngay giữa suối nước trên cái bàn bằng vàng. Sau khi ăn xong Sa di rửa bát rồi ngồi kiết già trên bàn ấy mà nhập định. Sau khi xuất định, Sa di ấy giặt áo dơ, tôi thấy Trời, Qủy, Thần hoặc kỳ cọ chỗ bẩn, hoặc lấy nước giội vào áo cho sạch; giặt xong, vị ấy phơi áo trên hư không và lại ngồi thiền định. Một giờ sau, vị ấy lấy áo, rồi đi ngang qua chỗ tôi ngồi thiền, tôi bèn chào hỏi mới biết là Sa Di Quân Đề là đệ tử nhỏ nhất. Trưởng giả nên biết, thầy của con dâu ông, vị nhỏ nhất cũng có thần lực như thế, huống nữa là các đệ tử lớn hơn, có ai bì kịp; huống chi là vị thầy của tất cả, đó là Sa môn Cù Đàm, Đức Như Lai.

2). ĐỨC PHẬT THỊ HIỆN THẦN LỰC:

     Nghe câu chuyện trên, Trưởng giả hỏi Phạm chí:

– Chúng ta có thể thấy thầy của con dâu tôi không?

      Phạm chí đáp:

– Hãy hỏi con dâu ông.

      Trưởng giả liền cho gọi con dâu đến và nói:

– Nay cha muốn được gặp thầy của con, con có thể thỉnh mời được không?

      Tu Ma Đề nghe nói, vui mừng thưa:

– Xin cha cho sửa soạn cơm chay cho đủ 1250 vị, ngày mai Như Lai (Đức Phật) sẽ đến đây, có các đệ tử Tỳ kheo đi theo Ngài, con trách nhiệm trong việc mời thỉnh.

      Tu Ma Đề tay bưng lò hương lên lầu, chắp tay hướng về phiá Tịnh xá Kỳ Hoàn nước Xá Vệ, nơi có Phật mà khấn nói:

– Cúi mong Thế Tôn khéo quán sát, không việc gì chẳng biết, không việc gì chẳng xét. Nay con là Tu Ma Đề, con gái Trưởng giả Cấp Cô Độc, lấy chồng về nước Mãn Phú. Nay con đang ở chỗ nguy khốn, cúi mong Thế tôn đoái tưởng mà đến đây vào sáng ngày mai. Rồi Tu Ma Đề nói kệ tán thán Phật đã từng hàng phục Qủy Thần, hàng phục kẻ sát nhân, hàng phục voi dữ, v.v… và xin Như Lai đoái tưởng.

      Bấy giờ Tôn giả A Nan thấy hương khói bay trong Tịnh xá, liền bạch Phật:

– Hương khói ở đâu mà lan đến Tịnh xá này? Xin Thế Tôn chỉ dạy. 

      Đức Phật bảo:

– Khói hương này là do Tu Ma Đề, con gái Trưởng giả Cấp Cô Độc thỉnh Ta từ thành Mãn Phú; Thầy hãy tập trung các Tỳ kheo lại, phát thẻ cho các Tỳ kheo A La Hán để ngày mai đến thành Mãn Phú thọ thỉnh của Tu Ma Đề.

      Khi các đệ tử tề tựu đông đủ, Tôn giả A Nan phát thẻ rồi Thế Tôn bảo một số Thánh Tăng ngày hôm sau đi trước và Ngài sẽ đến sau.

      Sáng sớm hôm sau, người cận sự của chúng Tăng tên Càn Trà vác một cái chảo to lớn, bay lên hư không đến thành kia, đi ba vòng, rồi xuống nhà Trưởng giả, nhiều người trong thành trông thấy, Trưởng giả hỏi Tu Ma Đề:

– Đây có phải là thầy con không?

      Tu Ma Đề đáp:

– Đây là Cư sĩ giúp chúng Tăng trong việc cơm nước, vị này có đủ ngũ thông.

      Sau đó lại có Sa di Quân đề Tu Bạt là đệ tử của Tôn giả Xá Lợi Phất, hóa hiện ra rất nhiều loại cây bông hoa, bay trên không, tới thành Mãn Phú bay ba vòng quanh thành, rồi hạ xuống nhà Trưởng giả. Trưởng giả thấy thế hỏi:

– Đây có phải là thầy con không?

– Không phải, người đó là đệ tử của đệ tử của Phật.

      Rồi Tôn giả Bàn Đặc mặc áo xanh, hóa hiện ra năm trăm Trâu xanh, ngồi kiết già trên mình trâu đi trên hư không đến nhà thì đàn trâu biến mất, Trưởng giả liền hỏi:

– Đây có phải thầy con không?

      Con dâu trả lời:

– Không phải, đây là đệ tử Phật.

      Tiếp đến, Tôn giả La Vân hóa hiện ra năm trăm chim Khổng tước, đủ màu sắc sặc sỡ đẹp đẽ, ngồi kiết già trên lưng chim bay đến nhà. Trưởng giả trông thấy hỏi:

– Đây chắc là thầy con?

      Con dâu thưa:

– Không phải, đây chính là con ruột của Phật.

      Tiếp đến, Tôn giả Ca Thất Na hóa hiện năm trăm chim Cánh vàng dũng mãnh, ngồi kiết già trên mình chim bay rợp trời đến nhà. Từ xa thấy, Trưởng giả hỏi:

– Đây có phải là thầy con không?

– Không phải, đây là đệ tử của Phật.

      Sau nữa, Tôn giả Ưu tỳ Ca Diếp hóa hiện 500 Rồng đều có bảy đầu, ngồi kiết già trên mình Rồng cuốn vút như gió đến nhà, Trưởng giả lại hỏi:

– Đây hẳn là thầy con?

      Tu Ma Đề thưa:

– Chẳng phải, Tôn giả này cũng là đệ tử của Phật và có hàng nghìn đệ tử.

      Tiếp theo là Tôn giả Tu Bồ Đề, hóa hiện núi Tu Di Lưu ly trong vắt, ngồi kiết già trong hang, núi bay lơ lửng đến trên thành. Trưởng giả thấy thế hỏi:

– Đây phải thầy con không?

      Con dâu đáp:

– Không phải, đây là Tôn giả Tu Bồ Đề, đệ tử của Phật.

      Lại đến Tôn giả Ca Chiên Diên hóa hiện năm trăm Ngỗng trắng, ngồi kiết già trên lưng ngỗng bay rợp trời đến. Trưởng giả thấy hỏi:

– Đây là thầy con chăng?

      Con dâu đáp:

– Chẳng phải thầy con, đó là Tôn giả Đại Ca Chiên Diên.

      Rồi Tôn-giả Việt Ly hóa hiện ra năm trăm con mãnh Hổ (Cọp), cưỡi trên lưng hổ trên hư không chạy đến, Trưởng giả trông thấy lại hỏi:

– Đây có phải là thầy con không?

      Tu Ma Đề đáp:

– Không phải, đấy là Tôn giả Việt Ly, là đệ tử của Phật.

      Kế đến Tôn giả A Na Luật hóa hiện năm trăm Sư tử rống vang, cưỡi trên mình Sư tử chạy như bay trên không đến. Trưởng giả hỏi:

– Đây chẳng phải thầy con sao?

      Tu Ma Đề đáp:

– Đó là Tôn giả A Na Luật là đệ tử Phật, vị này không thấy đường mà có Thiên nhãn thông nhìn thấy cả nghìn thế giới. 

      Tiếp đến Tôn giả

Tiếp đến Tôn giả Đại Ca Diếp hóa hiện ra năm trăm con Ngựa vàng, cổ đeo nhạc, hý vang, có lông đuôi đỏ chói, ngồi trên mình ngựa, chạy trên không như bay, có hoa trời rải khắp mà đến. Trưởng giả thấy thế hỏi:

– Chắc đây là thầy con?

      Tu Ma Đề thưa:

– Cũng không phải, đây là Tôn giả Đại Ca Diếp, đệ tử nối pháp của Phật.

      Rồi đến Tôn giả Đại Mục Kiền Liên hóa hiện ra năm trăm Voi trắng lớn có sáu ngà trang sức vàng bạc, ngồi trên mình voi, phóng ánh sáng chói lòa cùng khắp, đi trong hư không, có âm nhạc trời với phướn lọng trong hư không rất kỳ diệu mà đến. Thấy thế, Trưởng giả lại hỏi:

– Chắc hẳn đây là thầy con?

      Tu Ma Đề đáp:

– Không phải là Thế Tôn, đây là đệ tử của Phật, thần túc bậc nhất, tên là Đại Mục Kiền Liên.

      Mỗi vị vừa kể đều đi 3 vòng trên thành Mãn Phú, rồi xả thần biến khi xuống nhà Trưởng giả; lúc này, Thế Tôn biết đã đến giờ, Ngài khoác áo Tăng già lê, đi trên hư không cách bảy nhẫn (một nhẫn bằng 8 thước ta, mỗi thước ta bằng khoảng 2 gang tay) Tôn giả A Nhã Câu Lân hóa hiện làm Nguyệt Thiên (mặt trăng) ở bên trái, Tôn giả Xá Lợi Phất hoá hiện làm Nhật Thiên (mặt trời) ở bên phải, Tôn giả A Nan nương oai thần của Phật đứng phiá sau tay cầm Phất trần. Hơn 1,200 đệ tử vừa Thánh vừa phàm nương oai thần của Phật vây quanh trên hư không vùng Tịnh xá Kỳ Hoàn như thế; lúc ấy cũng có Vua Trời Phạm Thiên Vương tới đứng phiá bên phải của Phật, Vua Trời Đế Thích tay cầm Phất tử đứng phiá bên trái, Lực sĩ Kim Cang Mật Tích ở phiá sau tay cầm Chày Kim cang, Tỳ Sa môn Thiên Vương tay cầm Lọng bảy báu lớn che cho Phật. Bàn giá Tuần và các Thiên Thần, kẻ hoà nhạc, kẻ xướng ca công đức vô biên của Phật. Chư Thiên rải muôn hoa muôn màu trên Phật và chúng Tỳ kheo.

   Bấy giờ Trưởng giả Cấp Cô Độc, Vua Ba Tư Nặc, và nhân dân thành Xá Vệ đều thấy cảnh ấy tán thán không ngớt, trong khi đó, Phật đem các Tỳ kheo cùng chư Thiên Thần vô số kể đi như chim Phượng hoàng trong hư không đến thành Mãn Phú. Dân chúng cả thành đều thấy những cảnh tượng thù thắng như thế suốt từ sáng cho đến giờ phút ấy. Bấy giờ Trưởng giả Mãn Tài nói kệ để hỏi con dâu:

Đây là ánh trời chăng?

Chưa hề thấy vẻ này,

Mấy nghìn vạn ức tia,

Không dám nhìn chăm chú.

      Tu Ma Đề gật đầu, rồi qùy xuống, chắp tay hướng về Phật nói kệ đáp:

Chẳng trời, không chẳng trời,

Thường phóng nghìn thứ sáng,

Vì tất cả chúng sanh,

Đây đúng thật Thầy con,

Trời Người khen Như Lai,

Qủy Thần sợ oai Phật,

Nay sẽ được qủa lớn,

Cần siêng cúng dường Ngài.

      Trưởng giả Mãn Tài liền qùy gối phải, chắp tay ngước lên, dùng kệ tán thán Phật là bậc tối thắng đẹp hơn Thiên Đế, sáng hơn mặt trời, tôn qúy bậc nhất trong trời đất, không có loài hữu hình vô hình nào sánh cùng Phật, và xin được tự quy y mạng với bậc chí tôn.

 

      Lúc ấy Phật đưa các đệ tử xuống khoảng đất trống, rồi bỏ thần túc, bình thường đi vào nhà Trưởng giả; khi Ngài vừa bước tới cửa thì trời đất rung động mạnh, nhân dân hoảng sợ, Ngài bảo: “Đừng sợ, trời đất chấn động là do Như Lai đây thị hiện thần lực mà ra”.

 

      Mọi người thấy dung mạo Ngài các căn tịch tĩnh, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp trang nghiêm, nên đều tự nói: “Tại sao chúng ta lại không biết vị thượng tôn cực diệu như thế này, mà đi thờ những Phạm chí kém cỏi không thể  sánh được như thế ấy?” Thế là họ nói từ người này qua người kia, họ cùng tới để chiêm ngưỡng Phật và chúng Tỳ kheo. Số người đến mỗi phút mỗi đông hơn, thấy vậy, Thế Tôn hóa hiện nhà Trưởng giả thành lưu ly trong suốt, trong ngoài đều thấy hết, để cho nhân dân được lợi lạc chiêm ngưỡng.

 

      Khi ấy Tu Ma Đề đến trước Phật qùy lạy và nói điều cảm tạ Phật đã đáp lời khấn của cô mà đến, nhưng không hiểu vì ác duyên nào mà cô chịu khổ ở nơi đây, xin Phật dứt nghi cho. Phật trả lời là do lời thệ nguyện cứu chúng-sanh trước kia mà Tu Ma Đề đến nơi này, và cũng vì vậy mà được trí tuệ sáng suốt và khiến Trời, Người thấy được Tu Ma Đề như một hạt châu sáng, không có gì phải buồn lo cả; Tu Ma Đề nghe Phật nói vô cùng mừng rỡ.

 

      Lúc ấy Trưởng giả thấy Phật và chư Tỳ kheo đã an tọa xong, ông cùng các người hầu bưng thức ăn đủ món dâng lên cúng dàng đầy đủ. Khi ông thấy Thế Tôn và chư Tăng đã thọ trai xong, ông cho dọn dẹp sạch sẽ, rồi cùng Tu Ma Đề và thân quyến ngồi ngay trước măt Thế Tôn. Lúc ấy cũng có vô số kể nhân dân ngồi chung quanh xa gần mà nghe. Thế Tôn nói giới luận, thí luận, luận sinh Thiên, dục là bất tịnh, lậu là dơ xấu, xuất gia là cần yếu; Thế Tôn thấy Trưởng giả, Tu Ma Đề, và 84,000 (vô số) nhân dân tâm ý khai mở, Ngài liền thuyết các pháp khổ, nguyên nhân gây ra khổ, cách diệt khổ, và con đường tiến tới đạo. Khi ấy, mọi người đều sạch hết trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh, không còn hồ nghi, được sự không sợ hãi, mọi người đều xin quy y Tam Bảo, thụ trì ngũ giới (không sát sinh, không trộm cướp, không nói dối, không tà dâm, không uống rượu); Phật chấp thuận hết thảy. Trước Phật, Tu Ma Đề nói kệ:

Như Lai tai trong suốt,

Nghe con gặp nạn này,

Giáng thần đến đây xong,

Mọi người được pháp nhãn.

      Thế Tôn thuyết pháp xong, liền từ chỗ ngồi đứng lên cùng các Tỳ kheo dùng thần thông y như lúc tới để trở về Tịnh xá Kỳ Hoàn; mọi người đều qùy gối, ngước lên trời mà vái Phật và chúng Tăng đang xa dần bầu trời thành Mãn Phú.

 

      Bấy giờ các Phạm chí bảo nhau: “Chúng ta không thể sánh kịp với Sa môn Cù Đàm, nhân dân trong nước này đã bị Sa môn Cù Đàm hàng phục rồi, chúng ta không nên ở đây nữa, mà nên đi đến nước khác”, thế rồi họ lần lượt bỏ nước Mãn Phú mà đi. Ví như Sư tử chúa của các loài thú, có oai thần, khi rống lên các loài thú đều sợ hãi bay chạy mất hoặc nép phục ẩn núp, hoặc bỏ đi; các Phạm chí đối với Thế Tôn có đại oai lực cũng như vậy.

 

      Hôm sau, khi các Tỳ kheo tụ tập ở giảng đường, có một Tỳ kheo bạch Phật:

– Xưa cô Tu Ma Đề tạo nhân gì mà là con Trưởng giả Cấp Cô Độc và lại đọa vào nhà tà kiến? Và vì lý do gì cô được pháp nhãn (có con mắt nhận ra các pháp một cách tường tận) và lại tạo cho vô số nhân dân cũng được pháp nhãn như thế, xin Thế Tôn giải thích cho chúng con.

 

      Đức Phật bảo:

– Trong quá khứ của Hiền kiếp này, lúc đó có Phật Ca Diếp, Ngài ở tại nước Ba La Nại, du hóa cùng 20,000 đại chúng Tỳ-kheo. Bấy giờ vua Ái Mẫn có con gái tên Tu Ma Na, cô này có tâm cung kính Phật, vâng giữ giới cấm, hằng ưa bố thí, ái Kinh, lợi người và đồng lợi. Cô thường ở trước Phật tụng pháp cú (những lời Phật nói) và phát nguyện rộng lớn rằngCon hằng có pháp tứ ái và ở trước Như Lai tụng pháp cú, nếu con có chút phúc nào, con cầu khi sinh ra không rơi vào ba đường ác (Địa ngục, Súc sinh, Ngạ qủy), cũng không vào nhà nghèo, đời vị lai cũng gặp Phật ra đời, cho con chẳng chuyển sang thân Nam mà được pháp nhãn thanh tịnh”.

 

      Nhân dân trong nước nghe được Vương nữ thệ nguyện sâu rộng như thế, vô số người đến gặp, ca tụng công đức Vương nữ đã phát nguyện, nhân dân cũng muốn được đồng lợi như thế. Bấy giờ Vương nữ bảo:

– Tôi đem công đức này cùng thí hết thảy nhân dân các người, nếu về sau gặp được Như Lai thuyết pháp, tất cả đều đồng được độ.

 

      Các thầy chớ có nghi, vua Ai Mẫn lúc ấy, nay  là Trưởng giả Cấp Cô Độc, Vương nữ lúc ấy nay là Tu Ma Đề, nhân dân lúc ấy, nay là nhân dân nước Mãn Phú. Do lời thệ nguyện trước kia nay gặp Ta, nghe pháp được độ, và được pháp nhãn thanh tịnh, là vì nhân duyên ấy.,.  

 

 

Leave a Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.