TIẾNG LÒNG TA

TIẾNG NÓI PHẬT TỬ CHÂN CHÍNH.

HT Thích Huyền Tôn: Thiền Thi Văn Tập Cú tập 1 禪 詩 雲 集 句

ht-huyen-ton-16-

THIỀN THI VÂN TẬP CÚ TẬP 1.

Tuyển dịch, văn thể… HT.Thích Huyền Tôn.

Lão Tăng sưu tập Thiền-thi, cống hiến các bạn uống trà, ngâm nga, nghiệm thâm ý, trực ngộ diệu lý

Bất sanh, bất diệt. Bổng nhiên bay vút không trung, cười vui ha hả, nhìn thấy cõi trần không không

Vô tận…Tam-khổ, Bát-khổ biến thành Tịnh-độ. Tu, Tu nhiều, vui thú nhiều bạn nhỉ ! 

———0——–

1. Thiền-Lão thiền sư, đời Nhà Lý. Việt Nam.

Vào Năm Ất hợi (TL.1035) VL3914. Vua Lý-Thái-Tông đến thăm và hỏi:

-Hòa Thượng ở núi nầy được bao lâu ?

Hòa Thượng đáp: Đản Tri Kim Nhật Nguyệt,

Thùy Thức Cựu Xuât Thu.

Dịch: (?) Ngày nay chỉ biết ngày nay,

Còn xuân thu trước ai hay làm gì.

Có thể tạm dịch: Ngày tháng hôm nay biết rõ ràng,

Xuân Thu năm cũ mơ màng ai hay.(biết chi)

Nhà Vua hỏi tiếp: -Hằng ngày Hòa Thượng làm việc gì ?

Hòa Thượng Lại đáp:

Túy Trúc Hoàng Hoa Phi Ngoại Cảnh, ,

Bạch Vân Minh Nguyệt Lộ Toàn Chân. .

HT. Huyền Tôn, dịch:

Trúc biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh,

Trăng trong mây trắng cõi toàn chân.

Vua Lý, hiểu được lẽ đạo thâm huyền, về triều gởi chiếu thỉnh Sư làm c

Vấn, nhưng Thiền-sư đã Viên-tịch.

Sư Viên-tịch năm Mậu-dần, VL.3917 (TL.1038).

Lời Chú: Cái đạo lý của quá-khứ vi-lai, của hoa-vàng trăng-sáng không cần quan

Tâm, cảnh không trước cảnh, lý tính mặc tình nó tỏ lộ hay tan biến .

2.Vua Trần Nhân Tông. Việt Nam.

Cư Trần Lạc Đạo Thả Tùy Duyên, ,

Cơ Tắc Xang Hề Khổn Tắc Miên. .

Gia Trung Hữu Bảo Hưu Tầm Mích, ,

Đối Cảnh Vô Tâm Mạc Vấn Thiền. .

Huyền Tôn, dịch:

Cõi trần vui đạo hãy tùy duyên,

Đói ăn khát uống mệt ngủ liền.

Bảo vật dư rồi tìm chi nửa,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.

Đối cảnh vô tâm: sáu căn đối với sáu trần không nhiễm trước,

tức Tâm, Cảnh thanh tịnh Ngay đó Ngộ-đạo.

3.Đời Nhà Lý Vua Thái Tôn (Phật Mã) Năm Mậu-thìn, VL.3907. (TL.1028).

Làm bài Thi-kệ truy tán Ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi như sau:

Sáng Tự Nam Lai Quốc,

Văn Quân Cữu Tập Thiền.

Ứng Khai Chư Phật Tín,

Viễn Hợp Nhứt Tâm Nguyên.

Hạo Hạo Lăng Già Nguyệt,

Phân Phân Bát Nhã Liên.

Hà Thời Hạnh Tương Kiến,

Tương Dữ Thoại Trùng Huyền.

HT, Mật Thể, dich:

Mở lối qua Nam Việt,

Nghe ông chỉn học thuyền. (Thiền).

Nguồn tâm thông một mạch,

Cõi Phật rộng quanh miền.

Lăng-già ngời bóng nguyệt,

Bát Nhã nức mùi sen.

Biết được bao giờ gặp,

Cùng nhau kđạo huyền.

HT. Huyền Tôn, dịch:

Ngài qua nước Nam Việt,

Đã lâu tu học Thiền.

Mở bày lòng tin Phật,

Thấy suốt rõ tâm nguyên.(1)

Rực rỡ Lăng già nguyệt, (2)

Thơm ngát Bát nhã liên.

Bao giđược tương kiến,

Cùng luận đạo thâm huyền.

  1. Nguồn tâm, cũng là Chơn Tâm).
  2. Xưa ở nước sư-tử. nay là đảo tích lan. Lăng già là Bảo-thạch (đá qui)

Núi Lăng-già. Nơi Phật nói Kinh Lăng Già, và có “huyền ký”đời sau

có vĐại-đức tên Long-thọ Chứng Hoan-hỷ-địa nói “Đại-thừa diệu

-pháp” tại nước An-lạc.( Ấn-độ).

4 . Bậc Nhàn Đạo Nhân, Huyền Giác nói :

Tùng Tha Bán, Nhậm Tha Phi, ,

Bả Hỏa Thiêu Thiên Đồ Tự Bì. .

Ngã Văn Kháp Tợ Ẩm Cam Lộ, ,

Tiêu Dung Đốn Nhập Bất Tư Nghì. .

Trúc Thiên, Dịch:

Mặc ai biếm, mặc ai gièm,

Châm lửa đốt trời nhọc xác thêm.

Ta nghe như uống cam lồ vậy,

Tan hết vào trong chẳng nghĩ bàn.

Huyền Tôn dịch:

Mặc ai bán bổ, mặc ai chê,

Đem lửa đốt trời tánh tự mê.

Nghe chê như uống bầu Cam Lộ,

Nhẹ nhàng lan tỏa khó nghĩ bàn. (khó lời phê).

Người tu có năng lực nhẫn nhục lớn, vừa nghe lời “phê phán chê bai”

Liền ngay đó “Tu lập tức” coi như hđang hì hục “Lấy lửa đốt trời”

Nhưng ta thì đang uống cam lồ! và quí trọng họ! Vì hđang giúp cho

ta “TU” Và tự thấy sung sướng vì ta có TU thật sự. Nở nụ cười An-lạc.

5. Bậc Nhàn Đạo Thiền Sư Huyền Giác lại dạy :

Quán Ác Ngôn Thị Công Đức, ,

Tức Thị Thành Ngô Thiện Tri Thức. .

Bất Nhân Sán Báng Khởi Oan Thân, ,

Hà Biểu Vô Sanh Từ Nhẫn Lực. .

Huyền Tôn, Dịch:

Nghe lời hung ác, thêm công đức,

Ta cảm ơn người thiện tri thức.

Nếu vì oán trách khởi oan thân,

Sao được vô sanh từ nhẫn lực.

Trúc Thiên, Dịch:

Xét lời ác,ấy công đức,

Đó mới chính là thầy ta thực.

Chớ vì báng bổ nổi oan thân,

Sao tỏ vô sanh, nêu nhẫn lực.

Tu hành, gặp người ác mắng chưởi, ngay lúc đó ta tụng bài kệ này. Ta Tu

Ngay lúc đó! Ta chuyển lời khó nghe thành lời “Công Đức” Ta coi họ là

người bạn tốt, vì nhờ những lời mắng chưởi đó ta thấy ta là người có “TU”

đang Tu. Ta khởi tâm “Vui Sướng” vì ta đang có Đạo Lực Nhẫn Nhục.

liền cảm ơn họ. Ta mĩm cười, nếu không có những lời Ác độc đó thì suốt

đời ta lấy đâu để biết ta có thật tâm tu hành. Tu đi bạn nhé!

6. Khuôn Việt Thái Sư. Thời vua Đinh-Tiên-Hoàng (Đinh Bộ Lãnh)

Ngài H Ngô Pháp Hiu Chân-Lưu. Năm (TL.971) Tân-mùi VNQL.3850.

Ngài 40 tui, đưc Th phong Chc Khuôn Vit Quc Sư ( hay Thái Sư)

Lo khuôn phò đt nưc Vit. Vua vì quá mến phc tài năng và đo dc ca

Ngài nên đã phong Tăng Thng v Pht Giáo. Khuôn Vit Quc Sư qun

Lãnh Triu Đình đi ngoi cho nhà Vua. Hơn 11 năm sau Vua Lê Đi Hành

cũng kính trng Ngài trong chc v Thái Sư và nh Quc Sư viết thư cho vua

Tàu và tiếp s thn Lý Giác.

Nh đó s Tàu thành tâm kính trng Vua Nam.

S viết Bài thơ như sau:

Hnh ng minh thi tán thnh du, (mưu kế)

Nht thân lưng đ s giao châu. 使

Đông đô tái bit tâm vưu luyến,

Nam Vit thiên trùng vng v hưu.

đp yên vân xuyên lãng thch.

Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu.

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu,

Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu. .

HT. Mật Thể, Dịch:

May gặp Minh-quân giúp việc làm.

Một mình hai lược sứ miền Nam.

Mấy phen qua lại lòng thêm nhớ,

Muôn dặm non sông mắt chữa nhàm.

Ngựa đạp mây bay qua suối đá,

Xe vòng núi chạy tới giòng lam.

Ngoài trời lại có trời soi rạng,

Vừng nguyệt trong in ngọn sóng đầm.

HT. Huyền Tôn, Dịch:

Gặp buổi minh thời mưu tính xong, (Du. Là mưu kế)

Một thân hai lược sứ Giao Châu.

Đông Đô qua lại lòng lưu luyến,

Nam Việt ngàn trùng lắm nhớ mong.

Ngựa sãi gió mây xuyên suối đá,

Xe lăn nghiêng ngữa suốt dòng lưu.

Ngoài trời còn có trời soi sáng. (Vua Tàu và Vua Việt)

Biển lặng đầm trong thấy vẻ Thu.

Vua Đại Hành nhờ Quốc Sư Khuôn Việt, viết thư trả lời cho Sứ thần Lý Giác.

Thư viết theo điệu “Tống vương lan qui” như sau:

Tường quang phong hảo cẩm phàm trương

Thần Tiên Phục đế hương.

Thiên lý vạn lý thiệp thiên lảng,

Cửu thiên qui lộ trường.

Nhân tình thảm thiết đối ly tràng,

Phan luyến sứ tinh lang. 使

Nguyện tương thâm ý vị Nam cương,

Phân minh tấu ngã hoàng.

Lẽ ra, Phân Minh Tấu “ Thượng “ Hoàng, mới đúng. Ngã Hoàng”là Vua của Mình” Vì Sứ thần

Về lại Tàu, Tâu tốt với vua Tàu về việc của “Nam cương”.!

HT. Mật Thể, Dịch:

Gió hòa phất phớt chiếc buồm hoa,

Thần tiên trở lại nhà. (Tôn trọng cao quí)

Đường muôn nghìn dặm trải phong ba,

Cửa trời nhắm đường xa.

Một chén quan-hà dạ thiết-tha,

Thương nhớ biết bao là.

Nỗi niềm xin nhớ cõi Nam hà,

Bày tỏ với vua ta.

HT. Huyền Tôn, Dịch:

Gió lộng buồm hoa thuyền lướt mau,

Sứ thần trở lại “Tàu”. (1)

Biển rộng ngàn xa cảm xót đau,

Trời xanh, xanh một màu.

Ân nghĩa người Nam thấm ngọt ngào,

Lưu luyến lòng xốn xao.

Tình thâm chan chứa biết là bao,

Tâu rõ với Vua Nhà. (Thượng Hoàng).

(1): Tôn kính không quá cao.

7. CÓ , KHÔNG ? Thi cảm: HT.Huyền Tôn.

Chớ vương vào có, mơ có có,

Học đạo không không, phải thật không.

Có có mà chi, đeo với có,

Đã không, thì chớ cột vào không.

Luân-hồi sanh-tử, ôi có có!

Bỏ hết trần lao lặng lẻ không.

Có không, có có, không không có,

Bạn đã thấy gì, lẽ có không?

Cái có Chơn-thường là có có.

Cái không, không thiệt lại không không.

Tất cả đều không, không thật có,

Hiểu rồi thật có với thật không.

Không như sừng thỏ, là không có!

Có tợ chiêm bao, ấy có không?

Chẳng chấp vào không, chấp vào có,

Thong dong tự tai, kể gì Có Không.

8. HƯƠNG HẢI THIỀN SƯ.

Nhạn Quá Trường Không,

Ảnh Trầm Hàn Thủy.

Nhạn Vô Lưu Tích Chi ý,

Thủy Vô Lưu Ảnh Chi Tâm.

HT. Nhất Hạnh , Dịch:

‘Nhạn bay ngang trời,

Bóng chìm đầm lạnh.

Nhạn không có ý để lại dấu tích,

Nước không có ý lưu giữ bóng hình.’

HT. Huyền Tôn, Dịch:

Nhạn bay trên không,

Bóng chìm trong nước.

Nhạn không có ý lưu hình,

Nước đâu lại giữ bóng hình Nhạn bay.

Thiền ý : Đọc lời Thơ, Thấy cả có lẫn không. Có, có tất cả. Không, không tất cả! “Tánh

Không” nhiệm mầu của “Thiền Thi” làm cho người đọc hiểu được Vật thể hiện ở nơi đâu,

Thì Tâm ảnh hiện ở nơi dó. Ly hai cảnh Tiền-trần tức nhận được Chơn-không.

9. Vạn Hạnh Thiền Sư.

Thân Như Điện Ảnh Hữu Hoàn Vô, ,

Vạn Mộc Xuân Vinh Thu Hựu Khô. .

Nhậm Vận Thạnh Suy Vô BÚy, ,

Thạnh Suy Như Lộ Thảo Đầu Phô. .

HT. Mật Thể, Dịch:

Thân như bóng chớp chiều tà,

Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời.

Sá chi suy thạnh ở đời,

Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

HT. Thanh Từ, Dịch:

Thân như bóng chớp có rồi không,

Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng.

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,

Thạnh suy như cỏ hạt sương đông.

HT. Huyền Tôn, Dịch:

Thân như bóng chớp có rồi không,

Cây cối xuân xanh, thu đổi hồng.

Mặc cuộc thạnh suy đừng lo sợ,

Thạnh suy như giọt,đọng sương đông.

10. Chuyết Công Thiền Sư. Đời thứ 27, Tông Lâm Tế,

Trước Khi Viên Tịch Ngài Nói Thi Kệ :

Sấu Trúc Trường Tùng Trích Thúy Hương,

Lưu Phong Sơ Nguyệt Độ Vi Lương.

Bất Tri Thùy Trụ Nguyên Tây T, 西 ?

Mỗi Nhựt Chung Thanh Tống Tịch Dương.

HT. Thanh Từ, Dich:

Tre gầy thông vót nước rơi thơm,

Gió thoảng trăng non mát rờn rờn.

Nguyên Tây ai ở người nào biết?

Mỗi chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.

HT. Huyền Tôn, Dịch:

Tùng dài tre ốm nhỏ giọt thơm,

Trăng non gió thổi mát nhẹ vờn,

Nguyên Tây cổ tự ai đang ở ?

Chuông chùa ngân tỏa tản hoàng hôn.

Nói kệ xong, Sư bảo đại chúng; “Nếu ai động tâm khóc lóc,không phải là đ

Tử cùa ta”. Sư ngồi yên thị tịch, mùi hương lạ. đầy chùa cả tháng mới tan.

Đồ chúng xây tháp để nhục thân của Sư tại núi Phật Tích,

Kính mến chào độc giả!.

HT. Thích Huyền Tôn.

Mùa Vu-Lan 2642, VL.4897. Kỷ-hợi (TL.2019).

Leave a Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.